Lưu trữ hàng tháng: Tháng Chín 2014

Lễ húy nhật, kỷ niệm, sinh nhật ở miền Nam

Ngũ nguyện.
Hoàn Tam Bửu.
04g: Thuyết pháp.
05g: Mãn đàn.
Dân chúng từ khắp miền Nam lên Tòa thánh dự lễ rất đông đảo. Suốt trong hai ngày, tín đồ đều mặc đồ trắng, ăn chay. Ngoài lễ chính, dân chúng có thể dạo Bá huê viên để xem cây kiểng tươi xinh được trồng tỉa một cách công phu và thưởng thức múa lân,
múa rồng, đánh võ, cộ đèn, đốt pháo bông và pháo thăng thiên không bút mực nào tả.
a. Vỉa Đức Phật Thầy Tầy An: được tổ chức ở Tây An tự ha chùa Tây An gần miễu Bà Chúa Xứ vào ba ngày 10,11 và 12 thán
8, do Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương đề xướng được tín đồ và dân chúng Tiền và Hậu Giang tham gia đông đảo (tuy nhiên không bằng vía Bà Chúa Xứ).
Đức Phật Thầy sinh trưởng tại Cái Tàu Thượng, làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc cũ vào giờ ngọ ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mão (1807), tục danh Đoàn Minh Nguyên, pháp danh Giác Minh, khai sáng môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương từ năm Kỷ Dậu (1849) đến năm Bính Thìn (1856) thì viên tịch vào giờ ngọ ngày 12 tháng 8 tại Tây An tự kể trên.
Khác với vía Bà Chúa Xứ vui vẻ náo nhiệt, lễ vía Đức Phật Thầy được tổ chức trong sự tôn kính nghiêm trang.
b. Lễ Vía Bà Đen: được tổ chức trong 3 ngày mùng 4, 5 và mùng 6 tháng 5 ở núi Bà Đen. Dân chúng Sài Gòn và các tỉnh miền Đông tham dự nhiều hơn miền Tây. Các bà bóng chia nhau cúng múa trước bàn thờ Bà để cầu an cho bá tánh và cá nhân. Múa mâm vàng là lễ phổ thông trong dịp này.
Tối mùng 4 là lễ tắm Bà. Ngày mùng 5 là lễ chính. Thường có ban văn nghệ (cổ hay tân nhạc) giúp vui trong hai đêm mùng 4 và mùng 5.
Sau đây là vài hình ảnh về lễ vía Bà trong mùa hè 2008
2. Lễ húy nhật, kỷ niệm, sinh nhật
a. Lễ kỷ niệm khai sảng Phật giáo Hòa Hảo: được tổ chức trọng thể ở Thánh địa Hòa Hảo (xã Hòa Hảo, Tân Châu, Châu Đốc) vào ngày 18 tháng 5 và tại tất cả các giảng đường toàn miền Nam để nhớ ngày khai đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ. So với ba lễ vía quan trọng mà chúng ta đã điểm qua, lễ kỷ niệm này được tổ chức vĩ đại hom và số tín đồ cũng như khách hiếu kỳ đông gấp bội.
Trước 1975, suốt từ ngày 17 đến 19 tháng 5 người dự hội như thác lũ. Thật vậy, suốt ba ngày biết bao nhiêu trò vui: múa long mã và long lân, đánh võ, đốt pháo bông, rước đèn, cộ đèn. Đặc biệt và nổi tiếng nhất là đoàn bè thủy lục.
Đó là cả một công trình kiến tạo và mỹ thuật hao tốn biết bao nhiêu nhân và vật lực, nhưng với đức tin mãnh liệt ở mối Đạo, các tín đồ không hề tiếc công của để đóng góp cho ngày đại lễ kỷ niệm. Mỗi xã quanh vùng tối thiểu cũng có làm một bè thủy lục; có năm đoàn bè thủy lục lên tới hàng trăm chiếc lướt khắp nẻo sông từ thánh địa về tỉnh lỵ Long Xuyên rồi trở lên Châu Đốc. Mỗi chiếc đèn đuốc, hình tượng mỹ thuật; nào cảnh Bát Tiên, Tam Tạng thỉnh kinh, nào Quan Ầm quá hải, Hội Bàn Đào, Hội Quần Tiên, v.v…
Lễ này chính ra là một lễ tôn giáo, nhưng có thể nói hầu hết dân hai tỉnh Châu Đốc và An Giang cũ dù theo Phật giáo Hòa Hảo hay không cũng phải tham gia vì ảnh hưởng lớn lao và sự tổ chức rầm rộ của ngày lễ.
b. Hủy nhật Đức Thượng Công Lè Tả Quân: ở Lăng ông Bà Chiểu (bia dựng ngày 1 tháng 7 năm 1894) do Hội Thượng Công Quý Tế (thành lập từ 16-1-1914) tồ chức hằng năm vào bổn ngày 30 tháng 7, mùng 1, 2 và 3 tháng 8. Lễ này được dân chúng khắp miền Nam (nhất là khu Gia Định, Sài Gòn, Chợ Lớn cũ) tham dự đông đảo.
Trước 1975, chương trình lễ húy nhật mỗi năm có thay <J;- chi tiết nhưng đại để gồm có: 1 °1
Ngày 30 tháng 7
07g -19g: Chiêm bái và xin xâm.
09g30: Diên tế Túc yết.
Nhạc lễ cổ truyền.
18g: Lễ Xây chầu (Đại Bội)
Hát sơ cổ.
Ngày mùng 1 tháng 8
07g – 19g: Chiêm bái và xin xâm.
09g30: Diên tế Đàn cả.
Nhạc lễ cổ truyền.
15g: Hát bội.
Ngày mùng 2 tháng 8
07g – 19g: Chiêm bái và xin xâm.
1 lg: Lễ cúng các chiến sĩ.
15g: Hát bội.
Ngoài lễ húy nhật, trước 1975, hằng ngày, có thể nói Lăng Ông Bà Chiểu là một lăng từ sáng đến chiều không bao giờ ngớt người ra kẻ vào, khắp miền Nam ai cũng biết tiếng và nếu chưa lễ bái lần nào thì khi đến Gia Định hầu hết du khách muốn viếng thăm Lăng Ồng cho biết như thế nào. Theo sự dò hỏi của chúng tôi, trước 1975, Hội Thượng Công Quý Tế là một hội giàu nhất trong tất cả các hội về tín ngưỡng. Nhưng sau 1975 thì Ban Quý tế miễu Bà Chúa Xứ vượt lên và sau 1994 thì chắc chắn giàu hơn Hội Thượng Công Quý tế.
c. Lễ Giáng sinh: tức lễ sinh nhật mừng chúa Kitô ra đòi của các túi đồ Thiên Chúa giáo (gồm Công giáo, Tin lành, Cơ Đốc Phục Lâm, V V…) tổ chức vào đêm 24 rạng 25 tháng 12 dương lịch cũng như ở miền Bắc và Trung.

Bốn lễ vía quan trọng ở miền Nam

a. Ở các chùa Ông: ông đây là Quan Công (tức Quan Đế Thánh Quân), có thờ thêm hai con nuôi phò tá là Châu Xương và Quan Bình. Tổng số chùa ông ở miền Nam kém hơn chùa Bà. Các chùa Ông hầu hết là do người Tàu lập ra, dần dần dân miền Nam cũng ngưỡng mộ (nhiều đàn ông miền Nam khoảng tuổi 40 ứở lên rước hình ông về nhà lập trang thờ riêng!). Các chùa ông thường cúng vía Ông thống nhất vào ngày 13 tháng Giêng; riêng chùa ông Gia Ninh ở châu thành Tây Ninh cúng thêm vào ngày 13 tháng 5.
Trước 1975 ở miền Nam vẫn còn đôi ba hiệp hội lo việc phổ biến và cúng tế ông chẳng hạn như hội Hòa Khánh Quý Tế (215 Phan Văn Trị, Gia Định cũ) với chương trình lễ cúng vía ông như sau:
Ngày 12 tháng Giêng, Nhâm Tý (Thứ Bảy 26-2-72)
8g: Khai chuông trống.
9g: Tụng kinh Minh Thánh.
llg: Lễ cúng Đức Quan Thánh.
I5g: Tụng kinh Minh Thánh.
20g: Thời kinh Phổ Môn.
cầu quốc thới dân an.
Ngày 13 tháng giêng, Nhâm Tý (Chủ Nhật 27-2-72)
10g: Tụng kinh Minh Thánh.
10g30: Lễ cúng Đức Quan Thánh.
1 lg: Cúng Hậu Sở và chiến sĩ.
15g: Cầu siêu Chiến sĩ Trận vong và đồng bào tử nạn chiến tranh.
18g: Lễ tất.
b. Ở chùa Lào Sá (= Lào Yá): đặc biệt loại chùa này cũng như chùa Ông Bổn không thờ Phật mà thờ một vị thần người Tàu. Lào Sá (= Lào Yá) là tiếng Triều Châu đọc chữ Lão gia mà ra vì không ai biết tên thật của vị thần này. Lào Sá được triều đình nhà Thanh sắc phong “Bảo Sanh Đại Đế”.
Chùa Lào Sá nằm ngay xã Long Sơn (quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc cũ) thành lập được hơn một thế kỷ do ông Hia Ný (người Triều Châu; “hia” theo tiếng Tiều nghĩa là anh). Mặt tiền chùa hướng ra vàm rạch Cái Vừng. Theo các bô lão, ông Lào Sá hiển linh nhập xác trị bệnh dân chúng quanh vùng (xác đầu tiên tên ông Kía nên gọi là ông Lào Kía; xác trước 1975 tên ông Lên được dân chúng gọi là Lào Lên).
Ngoài những lúc lễ bái tùy ý, hằng năm ngày rằm tháng Giêng là ngày hội, kéo dài thêm ngày 16, dân làng tụ họp cúng kiêng xin xâm tấp nập, có nhập xác hiển linh và diễn hành ra đến <% Tân Châu.
c. Ở chùa Ông Quách: tức Kiên An Cung, ở ngay châu thành Sa Đéc do ông Huỳnh Thuận (thuộc bang Phúc Kiến) đứng chủ chốt trong việc kiến tạo. Chùa này thờ ông Quảng Trạch Tôn Vương; hằng năm có hai lễ quan trọng được dân chúng chiêm bái đông đảo là: Vía ông vào 22 tháng 2 và Thành Đạo vào 22 tháng 8
Ngoài ra, cứ ba năm đáo lệ, Ban trị sự của chùa này có lập trai đàn cúng cầu siêu, cầu an và thí thực phát chấn.
d. Ở miễu Bằng Lang*: trước tại xã Phú An (Tân Châu, Châu Đốc), sau dời về xã Phú Lâm thờ bà Thượng Đồng cổ Hỷ.
Trước kia, quanh miễu thường xảy ra nhiều điều huyền bí nên dân chứng ít dám lai vãng, chỉ riêng hai ngày 15 và 16 tháng 3 là lễ vía Bà được tổ chức long trọng, nào cúng tế, hát bội và cờ bạc (trước 1975) mới được dân chúng các xã đến cúng bái vui chơi.
2. Bốn lễ vía quan trọng ở miền Nam: đó là vía Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc, Đức Chí Tôn đạo Cao Đài, Đức Phật Thầy Tây An và Bà Đen.
a. Vỉa Bà Chúa Xí miễu Bà Chúa Xứ rộng lớn ở xã Vĩnh Tế, dưới chân núi Sam, cách thành phố Châu Đốc độ 5 cây số. Miễu đã được lập vào đầu thế kỷ XVIII, có sắc. Theo lời đồn đại, Bà Chúa Xứ thường nhập xác chữa khỏi nhiều bệnh.
Theo truyền thuyết, dưới triều Minh Mạng, Thoại Ngọc Hầu ứấn giữ biên cương vùng này. Vợ ông thường khấn vái Bà Chúa Xứ giúp chồng dẹp yên giặc (bấy giờ là giặc Miên), về sau, nhớ ơn, vợ Thoại Ngọc Hầu xây miễu lại Bà Chúa Xứ, khang trang hơn và làm lễ vía Bà trong ba ngày 24, 25 và 26 tháng 4; nhưng ngay từ ngày 20 dân chúng miệt Hậu Giang, Tiền Giang đã lũ lượt kéo đến.
Trong ba ngày chính, chương trình vía Bà gồm có: lễ mộc dục (12 giờ đêm 24), lễ thỉnh sắc (16 giờ ngày 25) và lễ chánh tế và cầu an (4 giờ chiều ngày 26). Lễ “mộc dục” tức lễ tắm Bà là được coi là thiêng liêng nhất: đúng nửa đêm ngày lễ, hàng trăm phụ nữ tay cầm hoa huệ trắng về dự lễ, quỳ trước chánh điện, đọc kinh làm lễ; trong đỏ hai thiếu nữ được chọn làm lễ tắm và thay quần áo cho Bà; bộ quần áo cũ của Bà được cắt ra nhiều mảnh nhỏ để phân phát cho mọi người rồi làm bùa trừ tà ma. Ngoài ra dân chúng tin tưởng còn xin xâm, vay tiền của Bà, v.v… Trong suốt ba ngày Ban Quý tế miễu Bà cỏ tổ chức hát bộ, biểu diễn võ thuật, ca nhạc ngũ âm để dâng bà và cho khách thập phương giải trí.
Kể từ sau 1975, miễu Bà Chúa Xứ càng ngày càng được dân chúng sùng bái, thăm viếng suốt năm nên nơi này gần như ữở thành một trung tâm du lịch và thương mại, giúp dân chúng địa phương mưu sinh hằng ngày và Ban Quý tế càng ngày càng giàu.
b. Vỉa Đức Chỉ Tôn đạo Cao Đài 10: hằng năm được tổ chức từ 12 giờ khuya đêm mùng 7 rạng mùng 8 tháng Giêng tại Tòa thánh Tây Ninh (được xây cất năm 1927). Chương trình buổi lễ chính gồm có:
12g: Tề tựu vào “nội tâm” Tòa thánh.
12g30: Lễ nhạc.
Olg: Thỉnh Tam Bửu.
Dâng rượu, trà, hoa.
Dâng sớ.

Hội lễ ở điện, chùa, miễu

a. Sự thể hiện: Tết Táo Quân của người miền Nam giản dị hơn của dân miền Bắc, chỉ cần một đĩa “thèo lèo cứt chuột”, một bộ “cò bay ngựa chạy”, bình bông, nhang đèn hoặc thêm đĩa trái cây là đủ rồi.
Trong Tết Táo Quân ở miền Nam cũng không có lệ trút lư nhang để đốt các cọng nhang, không có mua cá chép thả sông trong chậu nước rồi bày cúng, không hóa vàng áo mũ thờ (vì không có thờ áo mũ).
b. HỘI LỄ
Ngoài Tết Nguyên Đán, Tam ngươn, bốn tiết lễ phổ thông và đình đám, suốt năm tùy lòng ngưỡng mộ, tùy địa phương, dân miền Nam còn tham dự nhiều hội lễ khác. Phần lớn các hội lễ này có tính cách tôn giáo nhưng sự tham dự này liên quan đến sinh hoạt phong tục miền Nam nên chúng tôi xin trình bày ở đây.
1. Ở điện, chùa, miễu
a. Điện Bà Tây Ninh: trước 1962, từ mùng 10 đến 15 tháng Giêng, nhất là đúng hôm rằm, dân chúng các tỉnh Tây Ninh, Hậu
Nghĩa, Bình Dương, Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn, Chợ Lớn V đổ xô đến Điện Bà Tây Ninh đông như kiến cỏ, trước cầu Bà ph’ hộ, xin xâm, sau thưởng lãm phong quang hùng vĩ của vùng n’- Điện Bà.
Bà đây là Bà Đen được sắc Gia Long (đã bị mất!) phong tặng “Linh Sơn Thánh Mau”; đến đời Bảo Đại năm thứ 10, Bà lại được sắc phong lần thứ hai.
Điện Bà được khai lập từ thế kỷ XVIII với các vị tổ sư: “Thiệt Diệu, Tế Giác, Đại Cơ, Đạo Trung, Tánh Thiền, Hải Hiệp”7.
Trong khoảng 1962-1975, núi Điện Bà mất an ninh, cốt Bà được tạm rước về Phước Lâm cổ tự là một chi nhánh của chùa Linh Sơn trên núi Bà. Oai linh Bà hiển hách khắp miền Nam, cho nên trong khoảng thời gian đó dù khách thập phương không lên viếng Điện Bà nhưng hình như họ cũng hướng niềm tin vể núi Bà.
Ngoài ra còn hàng chục miễu Bà kém phổ thông hơn khắp miền Nam như miễu Bà (còn gọi là chùa Võng) ở xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, thành phố HCM), v.v…
b. Ở các chùa Ỏng Bổn: ông Bổn là một vị tướng Tàu gốc người Triều Châu tử trận ở Việt Nam và trở thành hiển linh. Ban đầu, chùa Ông Bổn do người Tàu sinh sống ở miền Nam lập lên ở mỗi quận lỵ, tỉnh lỵ (ở miền Tây có nhiều chùa này hơn ở miên Đông). Dần dần, con cháu lai của họ và người miền Nam tin tưởng đến lễ bái thường xuyên.
Hằng năm, tùy địa phương mỗi chùa có đôi ba kỳ cúng khác nhau, riêng trong tháng 7 chùa nào cũng có làm chay và cho thí vàng; mỗi kỳ bá tánh quanh vùng tề tựu đông đảo (đầy trẻ con!).
Ở Cà Mau có Phước Lãnh miếu tức chùa ồng Bổn do bang Phước Kiến tạo lập. Hằng năm, chùa này có một kỳ cúng chánh vào hai ngày 15 và 16 tháng giêng. Trong kỳ cúng này có tục cho quan khách và mọi người ăn toàn mì xào đặc biệt với hàu tươi, tôm khô, thịt heo; nhưng từ 1960 tục này không còn nữa và chỉ cúng chay ngày 15, còn ngày 16 thì đãi đồ mặn.
Tại châu thành tỉnh Bạc Liêu gồm có ba chùa Ông Bổn: chùa Bang (vía Ông 29 tháng 3, thí vàng 26 tháng 7, cúng cuối năm vào tháng Chạp, ngày lựa sau); chùa Tu Muối (vía Ông 29 tháng 3, thí vàng mùng 8 tháng 7, cúng cuối năm 18 tháng chạp); và chùa “Nhỏ” (vía Ông 29 tháng 3, thí vàng mùng 1 tháng 7, cúng cuối năm vào tháng chạp, ngày lựa sau).
Ở thị trấn Cầu Kè (huyện cầu Kè, tỉnh Trà Vinh) có đến ba chùa Ông Bổn. Hằng năm kỳ cúng lớn nhất vào tháng 7 “làm chay thí vàng”; vào dịp này dân chúng tề tựu thật vui vầy (trước 1975 cờ bạc xúm xít như ngày Tết Nguyên Đán). Chùa Giồng Lớn cúng từ mùng 8 đến mùng 10, chùa Tà Kháo từ 18 đến 20, chùa Chợ tổ chức linh đình từ 25 đến 28 nên có câu “25 vào đám, 28 ra giàn” mà hầu hết người lớn ở trị trấn cầu Kè đều nằm lòng.
Ở xã Thường Thạnh (Cái Răng, tỉnh cần Thơ) có Hiệp Thiên Cung. Hằng năm có một kỳ cúng chánh vào các ngày 12, 13, 14 tháng 5.
Đặc biệt một số chùa Ồng Bổn có xác (= xác người phàm được hồn Ồng Bổn nhập vào). Theo lời truyền tụng, hằng năm vào tháng 7, hồn Ồng Bổn nhập xác thể hiện nhiều điều huyễn hoặc như cắt lưỡi, cắt tay lấy máu vẽ bùa hộ mạng (người Tiều gọi bùa là “tia hú”) phân phát cho dân làng, chẳng hạn ở chùa Tu Muối, chùa Ông Bổn ở xã Ca Nả (xã Đại Tâm, tỉnh Sóc Trăng), ở chùa Bô Thảo (xã Bô Thảo, tỉnh Sóc Trăng) có xác rất linh thiêng. Riêng ở quận lỵ cầu Kè trước 1975 có tới bốn xác (đó là các ông Mười Út, Tám Lắng, Hữu và Bắc) oai linh danh tiếng khắp ba bổn tỉnh vùng Hậu Giang.
c. Ở các chùa Bà, ở miền Nam, chùa Bà Thiên Hậu quen thuộc hon các chùa Bà khác. Mỗi chùa có các ngày vía ngày cúng khác nhau, chẳng hạn:
Chùa Bà Mã Châu: thờ Bà Thiên Hâu Thánh Mầu thành Cà Mau. Trước 1945 vía Bà vào ngày răm tháng Giêng vía Bà đổi qua ngày 23 tháng 3, có ba tục: thí vàng, hát Tiều và ch vay tiền bạc., hồng, cam. Trong chùa có cho xin xâm.
Chùa Bà: ở châu thành Sa Đéc thờ Thiên Hậu Ngươn Quân có sắc từ đội nhà Hán, hằng năm đại lễ hai lần: 23 tháng 3 (vía Bà) và mùng 9 tháng 9.
Chùa Bà hay “Phò miếu”: ở góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn,Trãi (quận 5, Chợ Lớn), thờ Thiên Hậu Thánh Mau; vía Bà vào ngày 23 tháng 3 nhưng lễ được tổ chức từ ngày 18 đến 23 mới dứt.
–  Chùa Bà: ở phường Phú Cường, thị xã Thủ Dâu Một, vía Bà vào ngày rằm tháng Giêng (?).
V.v…
Ngoài các ngày vía chánh thức, các chùa Bà trên toàn miền Nam luôn luôn được khói nhang nghi ngút, nhất là vào lễ Tam ngươn và mùng một mỗi tháng.

Tết Đoan Ngọ

1. Tết Đoan Ngọ (  Tiết Đoan Ngọ)
a. Thời gian và nguyên ủy: Tết Đoan Ngọ được cử hành vào ngày mùng 5 tháng 5 theo sự tích ông Khuất Nguyên, một quan to đời nhà Sở bên Trung Hoa, là một người trung thần liêm chính không được vua nghe lời nên phẫn chí làm bài thơ “Hận ly tao” rồi ra sông Mịch La buộc đá tự trầm vào ngày 5 tháng 5. Sau đố, nhà vua hối hận ra lệnh dân chúng cúng ông ở bờ sông rồi liệng đồ cúng  cuống sông. Nhưng ông báo mộng với vua rằng bao nhiêu lễ vật ném xuống sông đều bị tôm cá ăn hết, nếu muốn ông được hưởng đồ cúng thì phải lấy lá gói lại buộc bằng chỉ ngũ sắc.
Ngoài ra, theo một truyền thuyết khác của các bô lão miền Nam, nguyên ủy Tết Đoan Ngọ ở nước Việt Nam như sau: Thuở xưa, có hai anh em cha mẹ mất sớm để lại nhiều của cải nhưng người anh bị bệnh phong đơn, người em vừa học hành vừa chăm nuôi cho người anh nên bỏ qua mấy khoa thi. Đến một ngày kia, nhà vua ra lệnh cho ai có học đều phải ứng thí nếu bất tuân sẽ bị tru di tam tộc. Buộc lòng người em phải từ giã anh để đi thi.
Người anh ở nhà quá nhớ mong em nên ra cây đại thọ mọc hướng trường thi leo lên định trông ngóng. Bất ngờ trời đổ cơn mưa, người anh tuột tay té xuống gốc cây mà chết. Mấy tháng sau nhằm ngày mùng 5 tháng 5 người em đậu trạng trở về thấy nhà hoang vườn trống, ra gốc đại thọ thì thấy thi thể anh đã rã rời bèn than khóc. Nhà vua nghe tin cảm kích tình huynh đệ của hai anh em nên truyền toàn dân chọn ngày mùng 5 tháng 5 cúng bái trước là kỷ niệm sau cúng những người thác oan.
b. Sự thể hiện: trước 1945 mỗi nhà mỗi cúng gà vịt bánh trái món ăn như ngày Tết Nguyên Đán nhưng ít hơn; vật thực chính của miền Nam trong mâm đồ cúng là bánh ú lá tro. Bánh này gồm hai loại: loại không nhân ăn chấm với đường cát; loại lớn hơn có nhân đậu xanh trộn đường (đường tán hay đường thẻ!). Sau khi cúng cả gia đình ăn uống vui vầy.
Ngoài việc cúng bái, trong ngày mùng 5 tháng 5, dân miền Nam còn có các tục:
Vạc gốc cây: sáng mùng 5, chủ nhà vác rựa ra chỗ các cây quả nào kém trái thì vạc vỏ quanh gốc với hy vọng tương lai cây sẽ “sai trái” hơn.
Nhảy mắt: ai mắt bị kèm nhèm, mắt mờ hay chảy nước mắt thì đúng 12 giờ trưa ngày mùng 5 chạy ra sân ngửa mặt lên trời nháy dăm ba cái để mong mắt sẽ khá hơn.
Kể từ sau 1954, hai tục vừa kể dần dần mai một đi. Còn các tục giết sâu bọ, nhuộm móng tay móng chân, đeo bùa, tắm nước lá mùi, hái thuốc vào giờ ngọ, treo ngải cứu trừ tà, đi sêu của người miền Bắc trong Tết Đoan Ngọ hiếm được người miền Nam theo.
3. Tết Trung Thu (- tiết Trung Thu)
a. Thời gian và nguyên ủy: theo nguồn gốc bên Trung Hoa, vua Duệ Tôn niên hiệu Văn Minh gặp tiên ông cho du nguyệt điện nhằm đêm rằm tháng 8; lúc trở về luyến tiếc mãi cảnh trên cung Hằng nên bày ra Tết Trung Thu để kỷ niệm.
b. Sự thể hiện: nhà nào cỏ vườn cây thì cúng trái cây, nước trà, bánh trung thu của người Tàu làm bán; ở phố chợ thường cúng bánh trung thu với nước trà.
Riêng trẻ em, Tết Trung Thu được coi là tết nhi đồng, nên thường mỗi em được một lồng đèn xách chơi quanh xóm.
4. Tết Táo Quân (- tiết Táo Quân = lễ Táo Quân)
a. Thời gian và nguyên ủy: Tết Táo Quân được cử hành vào ngày 23 tháng Chạp với hai nguồn gốc:
Trung Hoa: Theo các sách xưa, Táo Quân tức thần bếp tục gọi là Tư mệnh thần nghĩa là “vị thần hiểu biết sự sống chết của người ta, lại thay quyền Thượng đế để xem xét các điều thiện ác của từng người đã làm trong mỗi ngày, người thiện thì cho được hưởng phúc lành, kẻ ác thì bắt phải chịu tai vạ”4; hằng năm Táo Quân lên chầu Thượng đế vào ngày 23 tháng Chạp để tâu rồi mọi việc trong từng nhà. “Do ở tin tưởng ấy, trong năm vị thần dần dần người ta thờ ơ hẳn với bốn vị kia mà chỉ chú trọng về một thần bếp, trong mỗi nhà đều đặt một bàn thờ Táo quân”5.
“Sách Cổ chu lễ nói: ông Chúc Dung làm Táo thần. Hoài nam tử nói: vua Hoàng đế làm ra bếp lấy chỗ nấu nướng. Sau khi chết làm Táo thần. Ngũ kinh dị nghĩa nói: Táo thần họ Tô tên là Cát Lợi, phu nhân họ Vương, tên là Bác Đầu. Dận dương tạp trở nói: Táo thần họ Ngồi, hình dáng như con gái đẹp. Lại có họ là Trương, tên là Đan, tên tự là Tử Quách, phu nhân tên tự là Khanh Kỵ, sinh ra sáu con gái đều gọi tên Sát Trị”6.
Việt Nam: Tết Táo Quân bắt nguồn từ sự tích vợ chồng “một bà hai ông”; bà là Thị Nhi, hai ông là Trọng Cao (chồng trước) và Phạm Lang (chồng sau). Cả ba cùng chết vì lửa và được Thượng đế phong làm Táo Quân. Trong khoảng 1954-1975, sự tích này hằng năm được báo chí, radio, và truyền hình (1963-1975) đề cập đến khi sắp đến Tết Nguyên Đán nên được người miền Nam ghi nhớ hơn là gốc tích từ Trung Hoa.

Các tiết phổ thông khác

Mục Liên đi tu từ nhỏ, không có làm nghề thương mãi Thanh Đề vì oán thầy chùa mà làm bánh nhân thịt chó để gạt cá bậc tu hành nên mang tội chết bất đắc và bị đày ngục A Tỳ.
Không có chi tiết về việc bà Thanh Đề biến thành con chó cái
a. Sự thể hiện, dựa vào sự tích Mục Liên Thanh Đề, người Tàu rồi người Việt ở miền Bắc và Trung, lan đến người miền Nam, cứ đến ngày rằm tháng bảy, các chùa đình làm chay cầu siêu xá tội các vong hồn, còn tại mỗi tư gia dân chúng cúng cô hồn và cho giựt vàng.
* ở chùa đình: phổ thông nhất là ở chùa vì có nhiều đỉnh bỏ qua lễ Trung ngươn.
Ngay từ chiều 14 tháng 7, thiện nam tín nữ có quy y đến chùa đọc kinh sám hối, phụ lực mọi việc để chuẩn bị lễ lộc ngày hôm sau. Chương trình lễ Vu Lan (ngày 15 tháng 7) của các chùa đại để như sau:
8 giờ: bá tánh tề tựu, 10 giờ: lễ phóng sanh, lễ dâng y lễ cầu siêu 12 giờ: cúng ngọ tiễn linh thí thực thọ trai.
Ở các nơi khác: trước 1945, mỗi tư gia (ngoại trừ theo đạo Thiên Chúa hay quá nghèo) mỗi cúng rằm tháng 7 và cho giựt vàng. Cúng rằm thì phải cúng nhất định ngày 15, còn cho giựt vàng tức “cúng cô hồn các đảng” thì tùy gia đình có thể cúng trong khoảng 15 đến 30 tháng 7.
Nhân dịp lễ Trung ngươn, các chủ nợ, các công nhân bến xe, bến tàu, các nghiệp đoàn thường tụ tập cúng cô hồn và cho trẻ con giựt vàng.
Mâm giựt vàng thường gồm: các thứ bánh (cúng, cấp, bò, quy, da lợn…), đậu phộng nấu, khoai lang, mía, chuối, ổi, mận. Có nơi rải tiền cắc cho trẻ em xô lấn giành giựt ồn ào la khóc vang rân.
1. Hạ ngươn
a. Thời gian và nguyễn ủy: lễ Hạ ngươn được cử hành vào ngày 15 tháng 10 nên dân chúng quen gọi là “cúng rằm tháng mười” phát xuất từ lễ Song Thập của nước Trung Hoa với nguyên ủy như sau:
Có giả thuyết cho lễ này là một tục lệ của Phật giáo. Nhưng cũng có giả thuyết bảo rằng hằng năm vào ngày mùng 10 tháng 10 Ngọc Hoàng sai sứ thần Tam Thanh xuống duyệt xét tổng kết những việc lành dữ đã qua rồi trình tấu để minh xét. Vì thế, trong ngày đó dân chúng lập bàn hương án để làm lành tránh dữ.
b. Sự thể hiện: lễ Hạ ngươn cũng được thể hiện tương tự như lễ Thượng ngươn, nghĩa là bày bông trái nhang đèn trên các bàn thờ và cúng vái; ai có quy y hoặc bậc già cả rủ nhau đi chùa lễ Phật, ăn cơm chay.
Tóm lại, trong Tam ngươn, đối với dân miền Nam, lễ Trung ngươn tức lễ Vu Lan gọi nôm na là “cúng cô hồn” được tổ chức tại mỗi nhà và được sự tham dự của hầu hết mọi người từ già đến trẻ (trước 1945!). Còn lễ Thượng ngươn và Hạ ngươn thì tùy người, tùy gia đình; trong hai lễ này, ai tín ngưỡng thì đi cúng bái ở chùa miễu am cốc, đa số là đàn bà và người già tham dự, còn trẻ con và trai tráng đàn ông có vẻ lơ là.
A. CÁC TIẾT PHỔ THÔNG KHÁC
Theo thứ tự thời gian trong năm, dân miền Nam còn thực hiện bốn lễ tiết phổ thông khác chịu ảnh hưởng Trung Hoa.
1. Tết Thanh Minh (= tiết Thanh Minh)
a. Thời gian và nguyên ủy: Tết Thanh Minh được cử hành tháng 3, ngày thì căn cử vào lịch hằng năm.
Thanh minh là gì? Thanh là khí trong, minh là sáng sủa Thanh minh ám chỉ khí trong sáng tốt lành. Người xưa nhàn thấy khi tiết xuân qua, khí trời trở nên trong sáng, đó là khoảng thời gian đẹp nhất trong một năm, nên mượn cảnh vạn vật mà đặt ra tiết Thanh Minh.
Đối với dân miền Nam, Tết Thanh Minh còn gọi là lề tào mộ, nhằm mục đích thể hiện lòng tưởng nhớ công ơn những người khuất bóng và tình thương của người còn sống đổi với người đã chết

b. Sự thể hiện: không khác mấy với người miền Bắc và Trung. Trước 1945, đến Tết Thanh Minh, mỗi nhà mỗi vợ chồng con cháu đem cuốc xèng phát cỏ đáp lại, các mả mồ ông bà gọi là “giẫy mà”; rồi bày bánh hỏi thịt quay, bánh trái, rượu đế, nhang đèn, giấy tiền vàng bạc (nhà nghèo thì đồ cúng đơn sơ hơn và thay bảnh hỏi thịt quay bàng bộ tam sên); trước mộ bia củng vái và đốt giấy tiền vàng bạc xong thì mọi người xúm xít quanh mộ ăn uổng sum vầy.
Kẻ lừ sau 1954, lề tảo mộ càng ngày càng đơn giàn dần, con cháu thường giẫy cỏ, đốt nhang hơn là lễ mễ vật thực cũng kiếng; nhiều gia đinh vì bận bịu sinh kế bò qua lễ tào mộ vào dịp Tết Thanh Minh mà chờ dần dịp Tết Nguyên Đán mới giẫy mà luôn thể,

Lễ tiết và đình đám

CHƯƠNG V LỄ TIẾT VÀ ĐÌNH ĐÁM
Ngoài Tết Nguyên Đán, suốt từ mùng 7 tháng Giêng trở đi đến 23 tháng Chạp, ở miền Nam, dân chúng còn tham dự nhiều hội hè khác, trong số đó có Tam ngươn và cúng đình là được mọi người lưu tâm nhất.
I. LỄ TIẾT
A. TAM NGƯƠN
Đại đa số dân miền Nam thờ cúng tổ tiên và theo Phật giáo hoặc các tôn giáo biến thể của Phật giáo (như Cao Đài, Hòa Hảo, Hiếu Nghĩa, v.v…) nên mỗi mùng một và mỗi rằm là ngày cúng và ăn chay. Từ đầu đến cuối năm có 12 cái rằm nhưng có 3 rằm là rằm tháng giêng, bảy và mười được cúng kiếng long trọng hơn cả. Đó là tam ngươn hay tam nguyên.
1. Thượng ngươn
a. Thời gian và nguyên ủy: lễ Thượng ngươn được cử hành vào ngày 15 tháng giêng nên dân Nam bình dân gọi nôm na là “cúng rằm tháng giêng”.
Có ba giả thuyết về nguồn gốc lễ Thượng ngươn.
Ngày xưa, bên Tàu nhà vua có lệ hội họp các trạng nguyên và đãi yến trong vườn thượng uyển lúc ban đêm để xem hoa thưởng nguyệt xướng họa thi phú. Dần dần lệ này lan tràn ra dân gian.
Có giả thuyết khác cho rằng, ngày rằm tháng Giêng là ngày của Nùng Trí Cao (gốc người Vân Nam) bị tử trận. Cúng để tưởng
nhớ.
Đồng thời lại có giả thuyết thứ ba cho rằng ngày rằm thán Giêng là ngày kỷ niệm con cái vua Xích Đế (bên Trung Hoa) xưa vào rừng hóa kiếp thành con chim bồ các (= chim thước) là tổ để ở, đúng ngày rằm tháng giêng lại hóa tiên bay lên trời.
b. Sự thể hiện: ngoài việc mua bông trái cây nhang đèn cúng các bàn thờ trong nhà ngoài sân, dân chúng, nhất là phái nữ, lũ luốt đi chùa lễ Phật dùng cơm chay. Nơi nào có điện đền thì khách thập phương cúng viếng; các điện lăng nào có xin xâm (như lăng Lê Văn Duyệt) cũng được đồng bào thành tâm đến lễ bái đông đảo.
Trước 1945, cá nhân nào có van vái Phật Trời phò hộ thi đêm rằm tháng Giêng là dịp đốt đèn trời “tạ lễ”. Mâm lễ, ngoài bông trái nhang đèn, đặc biệt có đốt một cặp đèn cầy to (số 1) và ba chén chè trôi nước.
Đặc biệt ở xã Long Sơn (quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc cũ) trong lễ Thượng ngươn có hai tục lệ mà dân chúng ngưỡng mộ là:
Ông lên: vào ngày 15 và 16 tháng Giêng, các ông Lào Sá, Quan Công, Quan Bình, Châu Xương nhập xác ngồi trên kiệu diễu hành từ chùa Lào Sá đến quận lỵ Tân Châu. Các ông rất hiển linh, nào xiên lình, nào cắt lưỡi viết bùa, nào đi hỏa thang và tắm dầu phọng sôi.
“Du hồ” và “chưng cộ bát tiên”: vào chiều tối 15 tháng Giêng trong tiếng dồn dập xuất sắc của dàn trống Tiều, dân chúng lũ lượt đi xem những chiến thuyền “bong” mỹ thuật đèn đuốc rực rỡ trên làn nước và những chiếc cộ có những hình non bộ với bát tiên qua các đường phố.
2. Trung ngươn
a. Thời gian và nguyên ủy: Trung ngươn được cử hành vào ngày 15 tháng bảy, có nguyên ủy do sách Mục Liên cứu Mầu kinh diễn âm mà chúng tôi xin phép tóm lược như sau:
Ngày xưa, La Bộc mồ côi cha, thông minh hiếu thảo; mẹ là Thanh Đề gian ác.
Lớn lên không lập gia đình mà chỉ lo hầu hạ mẹ. Sau quá túng quẫn nên ông xin mẹ qua tỉnh Kiên Liên mua bán rồi trở nên giàu có. Trước khi sửa soạn về quê, ông sai người đem tiền về cấp dưỡng mẹ.
Được tiền, bà Thanh Đề phung phí cạn sạch rồi giả vờ vào chùa ăn chay niệm Phật.
La Bộc về, bà Thanh Đề trả lời rằng tiền đã đem cúng bái chùa chiền đình miễu. Nhưng lối xóm trình bày sự thật, La Bộc ngã quỵ hộc máu bất tỉnh. Bà mẹ và lối xóm cứu chữa rồi bất ngờ một tuần sau bà Thanh Đe chết. La Bộc chôn cất mẹ và than khóc ngày đêm. Mãn tang, ông qua nước Ki Đồ xin Phật cho tu luyện. Phật đặt pháp danh cho ông là Đại Mục Kiên Liên và cho vào tu ở chùa Lã Bí trong rừng Quýt Sơn.
Mục Liên vẫn nhớ mẹ và xin Phật cho xuống địa ngục tìm mẹ. Mục Liên đi qua nhiều cửa ngục, chứng kiến bao cảnh máu rơi thịt đổ mà vẫn chưa tìm được mẹ. Sau mới gặp Thanh Đe ở ngục A Tỳ; Mục Liên đưa mẹ ra cửa ngục nhưng bị quỷ ngăn, ông bèn trở về trần cầu cứu Phật.
Đức Phật bằng lòng và nói rằng: “Nhà ngươi cứ an lòng, trở về Vương Xí, ta sẽ hóa kiếp cho mẹ người làm con chó để nhà ngươi được gặp…”. Vâng lời, vừa đến nơi Mục Liên đã thấy con chó cái quấn quýt xin lỗi. ông hóa phép chó thành mẹ và lấy điều hiền lành cảm hóa. Kể từ đó, bà Thanh Đề lo tu hành và đêm rằm tháng bảy hóa tiên lên trời. Mục Liên theo mẹ và cầu xin Phật xá tội cho bảy đời họ hàng ông ta. Nhưng theo lời truyền khẩu của dân miền Nam được phổ biến, sự tích Mục Liên Thanh Đề có những chỗ khác với sách vừa kể trên như sau:

Chú thích

CHÚ THÍCH
1. Thái Văn Kiểm, Đất Việt trời Nam, Nguồn sống, Saigon, 1960 «211 212
2. Ngọc Tâm, Ảm lịch và dương lịch lịch tàu lịch ta, Văn Hóa nguyệt san Á
2, tháng 11 năm 1968, Saigon, tr 84 có viết: “Nước Tàu đã bỏ Tết âm một cách chánh thức (chứ không phải trong thực tế) thành ra Tết Nguyên Đán là Tết đặc biệt của dân tộc Việt Nam”.
3. Xin đọc thêm Người dân quê miền Nam và tục lệ ngày Tết của Lương Thu Trung, Giai phẩm Xuân Canh Thìn 2000 của Nhật báo Viễn Đông, Midway City, California, USA, tt 136-142.
4. Có người viết câu sau là: “Xuân mãn càn khôn, phước mãn đường”.
5. Nghê Văn Lương, Cà Mau xưa An Xuyên xay, Trung tâm học liệu, Saigon, 1972, tr 205.
6. Theo đúng sách vở thì đêm giao thừa phải cúng vái ba vị Hành Khiến, Hành Binh, Phán Quan, nhưng đại đa số dân chúng miền Nam trong thế kỷ XX đã có thói quen dời qua mùng ba, cho nên đêm giao thừa có cúng nhưng cúng mừng năm mới, cầu Trời khấn Phật phù hộ gia đinh bình an, ngoại trừ dân miệt Cà Mau, Bạc Liêu cúng theo đúng sách vờ.
7. Mỗi năm cúng ba vị danh tánh khác nhau, vì 12 năm nên gọi là Thập Nhị Hành Khiến. Sau đây là danh tánh 36 vị mà chúng tôi sưu tầm được và xin ghi ra đây để quý độc giả biết cũng như quý bà con nào còn tin tưởng cúng đầu biết mà khấn vái.
> Năm Tỷ: Châu Vương Hành Khiến, Thiên Ôn Hành Binh, Lý Tào Phán Ọuan.
> Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiến, Tam Thập Lục Phương Hành Binh, Khúc Tào Phán Quan.
> Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiến, Mộc Tinh Hành Binh, cổ Tào Phán Quan.
> Năm Mẹo: Tôn Vương Hành Khiến, Thạch Tinh Hành Binh, Liễu Tào Phán Quan.
> Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiến, Hỏa Tinh Hành Binh, Biểu Tào Phán Quan.
> Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiến, Thiên Hao Hành Binh, Hứa Tào Phán Quan.
> Năm Ngọ-. Tần Vương Hành Khiến, Thiên Hao Hành Binh, Vương Tào Phán Quan.
> Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiến, Ngũ Đạo Hành Binh, Thung Tào Phán Quan.
> Năm Thân: Tề Vương Hành Khiến, Ngũ.
> Triều Hành Binh, Tông Tào Phán Quan.
> Năm Dậu Lỗ Vương Hành Khiến, Ngũ Nhạc Hành Binh, Cự Tào Phán
Quan.
> Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiến, Thiên Bá Hành Binh, Thành Tào Phán Quan.
> Năm Hợi: Kiếm Vương Hành Khiến Ngũ Ôn Hành Binh, Nguyễn Tào
Phán Quan.
8. Việt Cúc, Gò Công cảnh cũ người xưa, tác giả xb, Saigon, 1969, tt 92-93.
9. Việt Cúc, Gò Công cảnh cũ người xưa, tác giả xb, Saigon, 1969.
10. Đào Văn Tập, sđd, tr 240.
11. Việt Nam  điên, Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1931, tr 216.
12. Việt Nam tự điển, Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1931, sđd, tr 612.
13. Đào Văn Tập, sđd, tr 654.
14. Trong Tín ngưỡng Việt Nam, sđd, quyển Hạ, tr 288, Toan Ánh có sưu tầm mẫu văn khấn giao thừa, chủng tôi xin phép sao y ra đây để giới thiệu với đồng bào miền Nam:
15. “Duy Việt Nam Đinh Mùi niên, Cộng Hòa đệ thập nhi, xuân thiên chính nguyệt, sơ nhất nhật, kim thân đệ từ Nguyễn Đức cầu quán tại cổ Mễ xã, Võ Giàng huyện, Bấc Ninh tình, cư trú tại Phú Nhuận xã, Tân Bình quận, Gia Định tình, đồng gia quyến đẳng, khế thù, đốn thủ bách bái.
16. Cẩn dĩ hương đăng, kim ngân hoa quả, phù lưu thanh chước, thứ phẩm chi nghi, cảm kiền cáo vu.
17. Vọng bái.
18. Đương niên đương cảnh Tống vương hành khiến, ngũ đạo chí đức tôn thần ngọc bệ hạ.
19. Lâm tào Phán quan vị tiền.
20. Bản địa Thổ địa thần kỳ vị tiền.
21. Bản cảnh Thành hoàng vị tiền.
22. Ngưỡng vọng chứng giám.
23. Cúc cung cầu khẩn.
24. Toàn gia đồng niên tự lão chí ấu, tăng phúc tăng thọ, nhân khang vật thính vạn sự hanh thông.
25. “Cẩn cảo”.
26. Nghê Văn Lương, sđd, tr 207.
27. Vân Hạc, “Múa lân một cuộc vui rất nhiều ý nghĩa trong ngày Tết Nguyên Đán ờ Nam Kỳ”, Trung Bắc Chủ Nhật, số 143, năm thứ tư Hà Nội, 1943, tr 30.
28. Vân Hạc, “Múa lân một cuộc vui rất nhiều ý nghĩa trong ngày Tết Nguyên Đán ờ Nam Kỳ”, Trung Bắc Chủ Nhật, số 143, năm thứ tư, Hà Nội, 1943 tr 30, tlđd, tr 30.
29. Toan Ảnh, Tín ngưỡng Việt Nam, sđd, quyển Hạ, tt 336-337.

Tết nhà Tết cửa, Tết trâu

Vậy “múa lân chẳng phải là một trò vui thường mà hàm một ý nghĩa cao thượng, một hy vọng tốt đẹp, cầu chúc đời thái bình.
1. Tết nhà Tết cửa, Tết trâu: trong dịp xuân sang, tại miền Nam không phải chỉ riêng con người ăn Tết mà còn phải cho nhà cửa và trâu ăn Tết nữa.
a. Tết nhà Tết cửa: thuở xưa, khuya mùng ba rạng mùng bốn làm lễ Tết nhà Tết cửa; từ 1945 đến 1963 một số dân quê miền Nam vẫn còn giữ tục này vào sáng mùng ba hay mùng bốn tùy nơi tùy gia đình. Kể từ 1975 tục này dần dần mai một.
Theo đó, thuở xưa, sau khi làm lễ tạ thần bản gia và thổ địa (bằng mâm bánh ừái và trà rượu), chủ gia cắt giấy vàng bạc hình thoi hay vuông nho nhỏ đem dán cửa, tủ, bàn ghế, ván, giường, khung bếp, cột, kèo, rương, ứấp, cối, chày, lu, hủ, v.v… trong nhà; rồi ra sân vườn dán cột bàn thiên, dán luôn thân cây dừa, bưởi, mận, ổi, cam, quýt, v.v…, quanh nhà, gọi là “cho nhà cửa ăn Tết”.
b. Tết trâu: ngày xưa, đối với dân làng miền Nam, con trâu rất quan trọng, nghèo giàu cũng nhờ nó, nên gia đình ăn Tết, người ta không quên tục Tết trâu.
Tết trâu bắt đầu từ sáng mùng bốn bằng nhang đèn và mâm trái cây, thúng gạo, giấy tiền vàng bạc rượu trà (có chỗ cúng bằng bánh tét với đường như ở Cà Mau) để cúng ông Chuồng bà Chuồng. Sau đó, chủ nhà lại chuồng trâu đổ rượu vào miệng mũi trâu đực và dán hai sừng và đổ nước trà vào miệng mũi trâu cái; rồi lấy hai lá vàng bạc giấy dán hai sừng và thả chúng đi ăn tự do. Đoạn chủ gia thưởng trẻ chăn trâu gạo bánh và lì xì; rồi cho nghỉ về thăm gia đình dăm ba hôm.
Trong khoảng 1945 đến 1975, tục này ít được áp dụng, một phần vì chiến tranh khiến nghề trồng lúa kém đi, cũng như dân chúng làm nghề thương mãi, tiểu công nghệ khá đông, máy cày bắt đầu dành chỗ con trâu chậm chạp. Từ sau 1975 tục này gần như mai một.
2. Khai hạ: còn gọi là khai sơn.
a. Nguyên ủy: theo Toan Ánh, nguồn gốc lễ khai hạ như sau: “Lễ khai hạ, người Trung Hoa gọi là lễ Nhân nhật, nghĩa là ngày của người.
Theo sách Phương sóc chiêm thú thì tám ngày đầu năm mỗi ngày thuộc riêng về một giống:
Mồng 1 thuộc giống Gà.
Mồng 2 thuộc giống Chó.
Mồng 3 thuộc giống Lợn.
Mồng 4 thuộc giống Dê.
Mồng 5 thuộc giống Trâu.
Mồng 6 thuộc giống Ngựa.
Mồng 7 thuộc giống Người nên được gọi là Nhân nhật.
Nhân ngày Nhân nhật là ngày của giống Người nên người ta làm lễ cúng Trời, Đất để đánh dấu ngày đó.
Người Việt Nam nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng Trời, Đất, còn sửa lễ cúng Gia tiên, cúng Thổ công và cúng thần Tài. Thường sau lễ này, những người buôn bán mới bắt đầu đi chợ, mở cửa hàng”18.
b. Sự thế hiện: thuở xưa, miền Nam ăn Tết tới mùng bảy, trăm việc tạm đình chỉ (cữ đào đất, chặt cây, đốn củi, v.v…), mọi người chờ làm lễ khai hạ mới trở lại công việc làm ăn hằng ngày. Lễ khai hạ còn gọi là lễ hạ vì trong lễ này có tục hạ nếu đã trồng từ hôm 30 (hay 29) Tết.
Trước 1945, sáng mùng bảy, hương chức tụ tập ở đình sau khi cúng Trời Phật mâm trái cây bánh mứt nhang đèn, ông chánh bái (hay bồi bái) đánh ba hồi mõ (gọi là “khai mõ”) và ba hồi trống (gọi là “khai trống”) để báo hiệu dân làng biết đình làm lễ khai hạ rồi hạ nêu xuống. Đoạn ông chánh bái ra sân đào một cục đất và chặt một nhánh cây tượng trưng. Từ giờ phút ấy dân làng mới được phép móc đất bẻ cây làm lụng đồng áng rẫy vườn, ai bất tuân 15 cuốc đất chặt cành trước khi ông chánh bái làm lễ khai hạ sẽ bi làng phạt vạ, đóng trăng. Gặp những năm, công việc ruộng rẫy quá thúc bách không thể chờ đến mùng bảy thì mùng ba theo lời yêu cầu của dân làng, Ban Hội tề nhóm tại đình làng ký tên thỏa thuận cho ông chánh bái làm lễ khai hạ sớm hơn thường lệ, bấy giờ dân làng mới dám làm lụng.
Còn tại tư gia, chủ nhà làm gà vịt cơm canh cúng các bàn thà rồi cũng hạ nêu.

ở thôn quê miền Nam, trong khoảng 1945-1963, tục trồng nêu có nhà giữ nhà không nên lễ khai hạ bị lãng quên dần; trong khoảng 1963-1975, rất hiếm nhà còn giữ; kể từ sau 1975, cây nêu chỉ còn có ở chùa đình mà thôi. Trong khi đó, ở phố chợ thị thành kể từ 1945 về sau dân chúng bỏ hẳn cây nêu và lễ khai hạ ngoại trừ chùa đình. 

Đi đồ Tết, mừng tuổi và chúc Tết

1. Đi đồ Tết, mừng tuổi và chúc Tết
a. Đi đồ trong dịp xuân sang, đi đồ  Tết (tức biểu Tết của người Bắc) cũng là một mối lo, một bổn phận của mỗi cá nhân đối với những người có ân nghĩa với mình.
Không kể việc con cháu họ hàng đem lễ vật về nhà trưởng tộc hay nhà hương hỏa để cúng tổ tiên ông bà và con rể phải sêu Tết gia đình bên vợ, còn nhiều người phải được lo đi Tết. Nào học trò kỉnh Tết thầy cô, bệnh nhân đền ơn thầy pháp thầy thuốc, thiện nam tín nữ cúng dường phật qua trung gian các bậc tu hành, cha mẹ có con ký bán các thầy bà cũng phải nhớ ơn trong dịp Tết..v.v
Trong những năm trước 1945 không có lệ lối xóm biếu xén lẫn nhau và dân làng không phải mắc nạn đi đồ Tết cho hương chức quan viên (chỉ hương chức nhỏ mới lo kỉnh Tết chúc Tết quan lớn mà thôi!) Nhưng từ năm 1945 đến nay, ảnh hưởng của người Bắc ở phố chợ có tục đi đồ Tết lẫn nhau và vấn đề đi đồ Tết trở thành một chuyện đáng lo ngại đối với những ai đang túng quẫn.
b. Mừng tuổi: sáng mùng một, trẻ con giàu nghèo đều thay áo quần mới để “làm tuổi” hay “mần tuổi” (đọc trại từ mừng tuổi) ông bà và người lớn nghĩa là chúc “sống lâu trăm tuổi” hay “làm ăn phát tài”, v.v… Rồi người lớn (ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, cô, dì…) cũng chúc lại “học hành tấn tới” (nếu có đi học!) “gặp nhiều may mắn” (nếu không đi học hay bỏ học và làm lụng!) và “lì xì” bao giấy đỏ trong có xu hay tiền cắc (bây giờ là giấy bạc!). Hồi xưa chưa có bao lì xì in dán sẵn đem bán thì dân miền Nam mua giấy hồng đơn, cắt dán làm bao.
c. Chúc Tết: thuở xưa, kể từ trưa mùng một Tết người lớn ăn mặc chỉnh tề đi từng nhà thân bằng quyến thuộc thăm viếng và chúc Tết gọi là “đi cung hỉ”.
Nếu chủ có nhà, người khách đầu tiên vô đất nhang lạy bàn thờ tổ tiên, rồi “cung hỉ” nghĩa là trao cho chủ gia một miếng giấy hồng đơn (kích thước ldm X ldm), một mặt ghi tên họ nghề nghiệp, mặt kia viết bốn chữ “Cung chúc tân xuân” bằng chữ Hán. Chủ gia rót rượu mời khách uống ly rượu “khai xuân” (thường chọn rượu ngọt hay nhẹ). Bánh mứt ứà nước được dọn ra, nói cười vui vẻ. Độ năm mười phút sau, khách kiểu từ, chủ gia đưa ra ngõ và nội ngày đó thế nào chủ gia cũng sang nhà khách để “cung hi” trả lễ thì khách mói thỏa tình.
Nếu nhà đóng cửa kín mít hay chủ nhà đi vắng, khách gởi lại thiệp cung hỉ Tết ở kẹt cửa hay ở bàn trên rồi vội vàng đến nhà khác.
Từ 1954 trở lại đây, tục “đi cung hỉ” cũng còn nhưng không còn đưa thiệp cung hỉ (nếu có thì thiệp chúc Tết đã được gởi trước ngày mùng một Tết!) và miễn bớt phần lạy đốt nhang và lạy bàn thờ tồ tiên; chỉ trong vòng bà con máu huyết mới còn duy trì tục lạy
bàn thờ trong lúc “đi cung hỉ” có lẽ “vì có bà con và người thân thiết đông đảo, gia chủ phải đi khắp xổm lạy cả trăm lạy trong ngà mồng một, đầu gối rã rời, qua hai ngày sau không còn chân cẳng đâu nữa”15.
d. Giải trí: ăn Tết đối với dân miền Nam (cũng như đối với dân miền Bắc và Trung) ngoài chuyện cúng kiên đó làm dịp àn nhậu và giải trí nhiều ngày.
Giải trí có nhiều thứ mà chúng tôi sẽ trình bày kỹ ở chương II trong đó cờ bạc là ừò tiêu khiển mà dân miền Nam mê nhất.
Cờ bạc cỏ đủ môn. Nào tứ sắc và xệp (phái yếu chuộng hơn cả), cu di, bài cào (trai tráng thích hơn), xì lác (hay già dách), bông vụ, hốt me, bầu cua cá cọp (con nít mê nhất!), v.v…
Các sòng bạc tụ tập nhiều nhất ở nhà lồng chợ hay ở các ngã ba ngã tư trong làng ngoài phố. Già trẻ bé lớn đều mê man; thầy thợ cu li hương chức đều bình đẳng và không sợ ai cười chê khi đã ngồi sòng trong ba ngày Tết.
Ngoài cờ bạc, trong dịp Tết, ở miền Nam còn có một thú giải trí khác hẳn miền Bắc và Trung. Đó là múa lân.
Ai đã sống ở miền Nam, chắc chắn đã thấy múa lân trong dịp Tet hoặc ừong các lễ lộc khác. Cách thức múa lân và hình dáng con lân chúng tôi xin miễn đề cập ở đây vì thiết tưởng ai cũng đã thấy biết; chúng tôi chỉ đưa ra nguyên ủy của múa lân ở miền Nam.
Múa lân do quan niệm (từ đời Khổng Tử) lân là một loài nhân thú hiếm có, chỉ những lúc có bậc thánh nhân xuất thế lân mới ra đòi, nên trong dịp Tết là thời gian thiêng liêng trời Phật thần thánh tố tiên từ thế giới khác về ngự trần gian, lân xuất hiện để báo hiệu để đón mừng.
Theo Vân Hạc, quan niệm ừên cỏ nguyên do như sau:
“Đời Xuân Thu, Thúc Lương Ngột nguyên làm quan Đại Phu lấy con gái họ Thi không con, vợ thiếp sinh con tên Mạnh
Bì nhưng có tật ở chân. Ông cầu hôn họ Nhan lấy con gái út là Trưng Tại. Vợ chồng cầu tự ở núi Ni Sơn rồi có thai. Khi sắp lâm sản, Trưng Tại mơ thấy con kỳ lân nhả ngọc ở cổng làng thành câu: “Thủy tinh chi tử, kế suy chu vi Tố vương” (con nhà Thủy tinh nối nhà Chu suy, làm vua không có ngôi). Nhan thị lấy dải lụa buộc vào sừng nó giắt đi. Khi sinh có năm ông lão đứng ngoài sân xưng là năm vì sao rồi biến mất, có hai rồng xanh vây quanh nhà, trên trời có tiếng âm nhạc và có tiếng nói rằng: “Trời cảm sinh Thánh tử nên giáng tiếng hòa vui xuống trần”. Nhan thị sinh trai diện mạo phương phi đặt tên là Khâu tự là Trọng Ni (kỷ niệm tên núi) sau thành Đức Khổng Tử”16.

Xuất hành và xông đất

Có bánh trái rượu thịt, liễn tranh mà thiếu pháo, dân miền Nam như trống vắng như nhớ nhung. Có thể coi pháo là tình nhân mỗi năm mới tái ngộ, cuộc gặp gỡ dây dưa khi xa xôi khi tình tứ lúc mặn nồng. Sân nhà đầy xác đỏ hồng được mọi người trầm trồ rằng “ăn Tết lớn”. Bởi vậy, dù giàu dù nghèo dù keo cú đến cũng mua pháo mặc dù biết rằng: 
Thừa tiền mua pháo đốt chơi Pháo nổ lên trời, tiền vứt xuống ao.
(Ca dao miền Bắc)
a. Thời gian: từ 23 tháng Chạp trẻ em và thiếu niên bắt đầu khai ngòi pháo Tết, lâu lâu một tiếng như thúc dục như nhắc nhờ năm hầu tàn và xuân sắp đến.
Đến chiều tối 30 (hay 29), khoảng 6-7 giờ, mọi bàn thờ đèn đuốc sáng choang, hương trầm nghi ngút, pháo thi nhau nổ từng tràng giòn giã.
Lạch tạch, lạch tạch, lạch tạch đùng, lạch tạch dùng…
Sau đó, pháo lơi dần, lác đác tới giao thừa pháo nổ hơn bao giờ hết, mỗi nhà tối thiểu một phong; tiếng pháo đại xé màn đêm đánh thức vạn vật. Tâm can mọi người háo hức trước thềm năm mới.
Khoảng một giờ sau, pháo nổ thưa dần.
Từ đó suốt mấy ngày pháo vẫn nổ tùy nơi tùy dịp (con cháu chúc Tết ông bà cha mẹ, khách xông nhà, dân làng mừng Tết hương chức, cúng cơm ngày hai bữa, học trò mừng Tết thầy cô, cúng đầu năm… đều là những dịp người ta đốt pháo tùy thích) cho đến khi dứt lễ cúng tất (tức lễ đưa ông bà), tiếng pháo mới thực sự im hơi.
b. Các loại pháo: gồm có tiểu, đại, tre, thăng thiên, chuột, chà.
Pháo tiểu và pháo đại tương tự bây giờ, dân làng có thể tự làm nhưng hầu hết đều do người Tàu bán.
Pháo tre do dân làng làm, nổ to hơn pháo đại, khuôn khổ bất nhất tùy ý tùy thuốc nổ nhiều ít: loại nhỏ nhất bằng ngón chân cái (vấn 4 lớp), loại to nhất bằng cùm chân dài độ lớn đến 5 (vấn 8 hoặc 12 lớp); ngoài ra, nhà trưởng giả có khi vấn cây pháo tre bằng cái tối trẻ em, trưng đến cúng tất hay rằm tháng Giêng mới đốt. Vật dựng làm pháo tre gồm có: diêm sanh làm thuốc nổ, vỏ hột quẹt (hoặc giấy thiếc, giấy kiếng) làm bao đựng thuốc nổ, dây lùn (hay vỏ tre trúc mỏng) phơi dột dột để vấn làm vỏ. Thêm nữa, từ đầu thế kỷ XX đến 1963, trẻ con trai tráng miền Nam có chơi loại pháo tre đốt bằng khí đá tương tự kiểu súng thần công, nổ nhỏ hơn pháo tre vấn chút ít nhưng đỡ tốn kém hơn vì cục khí đá được làm nổ nhiều làn và ống tre xài lâu mới tết.
Pháo thăng thiên ít phổ thông, do dân làng tự làm nhiều hơn mua; bề tròn của nó lớn hơn pháo tiểu chút ít, bề dài thì gấp đôi, có đuôi dài bằng .cọng lá dừa để giữ lái cho pháo khi châm lửa sẽ bắn vọt thẳng lên không trung.
Pháo chuột thời trước 1945 không phải là loại pháo bé tí trẻ con thích cầm tay đốt chơi như bây giờ mà được chế có hai ngòi và cột tuột song song với sợi dây đến tràng pháo (tiểu và đại); bắt đầu người đốt châm ngòi, viên pháo chuột xịt khói lửa chạy bắn tới làm tràng pháo bắt lửa nổ giòn, ngay sau đó ngòi ở đầu kia của pháo chuột lại bắt lửa xịt khói vọt trở ngược hướng cũ.
Pháo chà trước 1945 do người Tàu làm bán, hình thể như cục xôi nhỏ (to gấp rưỡi hay gấp đôi viên đạn chai) vò méo; trẻ con thích mua rồi chà lên gạch đá nổ chẹt chẹt nghe vui tai.
Ngoài ra có pháo bông, nhưng dân làng không dùng trong dịp Tết, chỉ vào những ngày lễ của Pháp (như 14 Juillet, Noel, Tết Dương lịch) thực dân hay các chủ quận, chức việc Việt Nam theo Tây mới đốt để liên hoan.
1. Xuất hành và xông đất: trước 1945, vấn đề xuất hành và xông đất được dân làng miền Nam lưu tâm chọn lựa cẩn thận vì họ tin tưởng nếu xuất hành đúng ngày giờ đúng phương hướng cũng như gặp người họp tuổi xông đất nhà mình thì suốt năm mới gặp
nhiều may mắn, làm ăn phát đạt, sức khoẻ dồi dào, còn chẳng may đi nhằm hướng hay giờ xung khắc hoặc gặp người vía dữ hoặc độc ác hay khờ khạo đến đạp đất ắt hẳn trọn năm xúi quẩy thế nào cũng mang vạ lụy vào thân.
Nhiều người dở lịch Tàu (gọi là Hạ Lịch) hay lịch quốc ngữ có ghi rõ ngày tháng giờ hung kiết hoặc nhờ thầy đồ thầy bói chỉ dẫn xuất hành. Chẳng hạn, ngày Tân Mùi khắc tuổi Ất và tuổi Đinh Sửu; giờ kiết Dần, Mẹo, Tị, Ngọ và Thân; ngày Quý dậu khắc tuổi Đinh, Tân Mẹo; giờ kiết Dần, Thìn, Tỵ, Ngọ. Còn năm Nhâm Tý xuất hành hướng Đông và hướng Tây gặp nhiều quý nhân giúp đỡ.
So với miền Bắc, dân Nam ít mời hẹn người mình thích đến xông đất lấy hên cũng như không tin rằng chủ ai hay người trong nhà có thể tự xông đất. Thường thường, khoảng 11-12 giờ mùng một trở lên người ta mới dám lựa nhà quen thân đến trước (để lỡ năm đó gia đình ấy có gặp xui xẻo thì họ cũng ít bị phiền trách hơn là xông đất chỗ sơ giao.