Lưu trữ hàng tháng: Tháng Mười 2014

Xếp đặt và trang trí nhà cửa

một mái để che mặt tiền của gian nhà chính.
Nhà có thảo bạc (từ sau ra trước)
Ba gian có 2 nhà phụ;
Chú thích:
1: Căn nhà chính ba gian 2: Nhà phụ bên mặt 3: Nhà phụ phía sau 4: Nhà bếp
Ba gian cỏ 3 nhà phụ: đây là một kiểu nhà ba gian gồm nhiều nhà phụ được cất kiểu bất nhất (- không nhất định) vây quanh ba mặt (thường các nhà phụ được cất cách thời gian theo nhu cầu).
Chú thích:
1: Căn nhà chính (ba gian)
2: Nhà phụ bên mặt 3: Nhà phụ phía sau 4: Nhà phụ bên trái
5: Khoảng trống (thường để lu chứa nước mưa)
PHỤ CHÚ:
Nhà ở thôn quê miền Nam thường có thêm:
Chuồng trâu, bò, heo, gà, vịt: thuở trước 1960 các loại chuồng này ưa được cất cách nhà 10-20m; giữa 1960-1975 thường được cất cạnh nhà vì ảnh hưởng chiến tranh.
Trại ghe: phổ thông ở miền Tây, được cất xéo phía trước nhà cặp bờ sông hay rạch.
Vườn hoa kiểng. ở miệt ruộng, sân rộng bao bọc quanh nhà nhưng người miền Nam ít trồng hoa kiểng; còn nhà ở miệt vườn ở Kiến Hòa, Bình Dương, v.v…, người ta ưa trồng hoa, cây kiểng và cây ăn trái.
2 Vật liệu:
a  Vật liệu nhẹ: gồm có lá dừa nước, dưng, tre. gồ, tranh* mành tt*. dk nhồi rơm.
Lá dừa nước (- lả dà diệp): trước 1954 là vật liệu thống dựng nhất vừa dừng để lợp mải vừa dừng vách, ngoại trừ một thiều sổ nhà cửa ở phổ chợ. Hầu hết nhà ở xa thị thành phố phường đều cất nhà bàng lá dừa; nếu cản nhà chỉnh lợp bằng ngói thì nhà phụ hay nhà bếp, chái cũng lợp mái bằng lá dừa.
Lá dừa nước dừng cất nhà được phơi dột và chia làm 3 loại:
Lả hét (-IỎ xẻ): là lả dừa nước để nguyên làu rồi xẻ làm hai. Loại lá hét trước 1945 được sử dụng 95% tổng sổ; sau đỏ chỉ ở các tinh thuộc Hậu Giang (nhất là ở Đạc Liêu và Cà Mau) còn lợp loại lá nảy, còn đại đa số nhà lá ở miền Nam dừng loại lá chằm óp.
Lả chầm óp (- lá cần đóp = lá châm đóp): nguyên tàu lá được tét ra từng lá nhỏ; rồi được thợ chàm gập đôi, dùng dây lạt (lạt dừa hay lạt cơ bắp) kết dọc theo cọng tre, kích thước khoảng Ỡm5 X Im2. Sau 1954 loại lá này rất phổ thông nhờ đặc điểm nhẹ nháng, dề di chuyển, không phải lo giàn kẻo cột vững chãi và căn nhả có vé phong quang hơn.
Lá chàm: là nguyên táu lá được tét ra rừng lả nhỏ; rồi được thợ chằm dùng dây lạt kết lại bể ngang khoảng lm-lm2, bè dài bất định. Loại u này dùng để dừng vách.
Đung: được thông dụng ở miền Tây hơn miền Đông vi có nhiều ruộng nước, bưng bàu. Trước 1945 ở thôn quê có nơi nhà nhà lợp đung, dừng vách đung; sau đó chỉ một số ít nhà thật nghẻo, chòi hay nhả cất tạm mới xài đung.
Tre: tùy theo cách sử dựng, tre có thể được dùng nguyên cây (như làm đòn tay) hoặc chẻ đôi (để làm nẹp vách).
Gỗ: cũng tùy ý và cách sử dụng, người ta dùng một trong 3 loại gỗ.
Gỗ tròn: là loại gỗ nguyên cây (như cây tràm), ai cất cũng ưa dùng, thông dụng ở thôn quê hơn phố chợ.
Gỗ vuông: là loại gỗ được xẻ ra tò thân cây to (như cây cây sao), ai cất nhà lợp ngói hoặc nhà ba gian thường dùng. Loại gỗ này phổ biến hơn loại gỗ tròn nhờ sự chắc bền và thẩm mỹ của nó
Gỗ tấm: hình chữ nhật, được gọi là ván thường để đóng vách, kích thước đủ cỡ, đủ loại.
Tranh: miền Đông nhiều rừng buội nên nhiều tranh và dân chúng tiện cất nhà bằng tranh hơn lá.
Mành mành tre: trước 1954 rất phổ thông.
Mành mành tre được dùng làm vách ngăn chứ không làm vách ngoài vì sự kém chịu đựng ẩm ướt. Sau 1954, càng ngày mành mành tre biến mất; chỉ còn một ít miền thôn quê còn xài mà thôi.
Đất nhồi rơm: trước 1945 hiếm tư gia (dù ở thôn quê) dừng vách bàng đất nhồi rơm. Từ 1954-1975, ở thôn quê, vách đất nhồi rơm rất phổ thông vì hai lý do: chịu ảnh hưởng của người Bắc di cư (từ 1954) và ảnh hưởng chiến cuộc (từ 1960-1975).
b. Vật liệu nặng: ít được dùng hơn vật liệu nhẹ trước 1945. Đó là ngói, gạch, cát, xi mãng, đá nhỏ, đá tảng, tôn.
Ngói: dùng để lợp mái.
Trước 1954, phổ thông nhất là ngói âm dương gồm 2 loại (loại lớn gọi là ngói đại; loại nhỏ gọi là ngói tiểu); thứ đến là ngói móc cũng gồm 2 loại, loại lớn phổ thông hơn có hình dáng như sau:
Gạch: dừng để xây hoặc lót nền. Trước 1954, gạch thẻ và gạch Tàu rất phổ thông. Xây thì xài gạch thẻ; lót thì xài gạch Tàu vuông vức, kích thước 0m315 X 0m315. Trước 1945 khắp một quận mới có dăm nhà quyền thế xài gạch bông hay cẩm thạch để lót nền, lót tường hoặc xây cột đúc cốt sắt.
Ngoài ra có gạch ống màu đỏ (vững chắc) và màu xám (không chắc) dùng để xây tường. Hai loại này được dùng nhiều sau 1963.
Kể từ sau 1954 gạch Tàu trở thành lỗi thòi để tráng nền; nền tráng xi măng càng ngày càng trở nên phổ thông. Sau 1945, nhất là sau 1954, dù làm nóng người trong nhà, tôn lần lần thay thế các loại lá để lợp nhà nhờ bền bỉ, sạch sẽ, dễ và làm mau hơn và làm cảnh nhà tươi sáng hơn.
Cát, xi măng, đá nhỏ cũng được dùng để xây cất tư gia, nhưng phổ thông ở phố chợ thị thành hơn. Đá tảng rất ít được dùng ở miền Tây và chỉ được dùng để xây cất nhà giàu hay quyền thế ở miền Đông.
A. XẾP ĐẶT, TRANG TRÍ
1. Cách xếp đặt toàn căn nhà: không thống nhất vi “chín người mười ý”; có nhiều sự thay đổi khác nhau từ nhà nghèo đến nhà giàu, từ nhà này sang nhà nọ; tuy nhiên, nói tổng quát, cách sắp xếp một tư gia (từ ba gian đến nhà xây tường) miền Nam như sau: Chú thích:
Nhà trên làm nơi thờ phượng và phòng khách Buồng ngủ của nữ giới
Buồng ngủ của nam giới hay vợ chồng mới cưới
Giường, ván, chõng để trẻ con hay đàn ông ngủ
Khu nhà bếp
Bồ lúa thóc, hạt giống
Kho nông cụ, vật dụng

Kiến trúc nhà miền Nam

Ngoài ra, hằng năm trong Tam Ngươn và các lễ tiết chính (như Tết Đoan Ngọ) gia trưởng cũng cúng tổ tiên nhưng lễ vật đơn sơ thường gồm nhang, đèn, bông và trái cây hay thêm chè, bánh mà thôi.
Mỗi khi có lễ lộc gia đình, gia trưởng cũng cúng bái tổ tiên. Đó là những dịp có lễ hỏi, lễ cưới, ăn mừng, thi đậu, cất nhà mới, lục tuần, v.v…
Khi cúng trả lễ (như cúng mụ, ông địa, đất đai viên trạch, một đấng thần thánh nào theo lời van vái, v.v…) theo phong tục không có cúng bái ở bàn thờ tổ tiên nhưng người miền Nam cũng có một số gia đình quen lệ đốt nhang, vọng vái đơn sơ ở các bàn thờ ông bà, tổ tiên.
1. Nghi thức tổng quát: tùy theo mỗi cuộc lễ và mỗi địa phương, nghi thức được thay đổi đôi chút nhưng tổng quát nghi thức cúng vái ở bàn thờ tổ tiên như sau:
a. Trong lễ cúng hằng ngày: gia trưởng, vợ hoặc con cháu từ 12 tuổi trở lên phụ trách. Người đứng cúng đốt nhang (số cây nhang tùy thuộc vào số bàn thờ và số lư nhang mỗi nhà), van vái rồi xá 3 xá ở mỗi lư nhang trước khi cắm mỗi lư nhang một cây.
b. Trong lễ cúng hằng tháng: sau khi bày dĩa trái cây và bình bông mới ở bàn thờ, gia trưởng hoặc vợ đốt nhang lâm râm khấn nguyện rồi cũng xá 3 xá ở mỗi lư nhang trước khi cắm mỗi lư 3 hoặc 1 cây.
c. Trong các lễ tiết phụ thuộc: cũng do gia trưởng hay vợ lo liệu, chỉ khác lễ cúng hằng tháng là Tết Đoan Ngọ có cúng thêm
các món ăn mặn, chè, bánh ú lá tro và Tết Trung Thu cỏ 1, tung bánh Trung Thu.
d. Trong lễ giỗ và các lễ bất thường: do gia trưởng phụ  (gặp trường hợp bất khả kháng, người vợ mới thay thế!) khác V các lễ khác ở 4 điềm:
Đồ củng nhiều hơn, đầy đủ món mặn (hoặc lạt nếu người chết có quy y hay ăn chay trường), món ngọt, nước, rượu, trà.
Có đốt đèn cầy.
Có lạy (4 lạy!).
Cỏ đông đảo người chứng kiến và tham dự lễ cúng.
e. Trong dịp Tết Nguyên Đán (xin đọc lại Phần I, Chương IV, Mục 1 về “Đối với những người đã chết”).
Xét chung về nghi thức cúng bái tổ tiên, chúng ta nhận thấy:
Con cháu phải luôn luôn tỏ lòng thành kính (thí dụ: ăn mặc chỉnh tề, trang nghiêm).
Gia trưởng luôn luôn là người chủ chốt, ngoại trừ lễ cúng hàng ngày.
II. NHÀ CỬA
“Không một mái,nhà” là tựa một cuốn phim được chiếu khoảng năm 1955 nói lên thảm cảnh cùa một gia đình miền Nam vô gia cư, sống lếch thếch, lang thang đầu đường xó chợ và cho chúng ta thấy nỗi ước mơ một căn nhà đè nặng tâm khảm của các diễn viên.
Thật vậy, dù thích phóng khoáng và đơn giản, người miền Nam cũng như mọi người Việt Nam mang ước vọng thứ nhất khi trưởng thành là có một tư gia giầu chỉ là một túp lều che nắng che mưa. Người miền Nam cũng có những tin tưởng huyền bí về nhà cửa (mà chúng ta đã điểm qua I Chương “Mê tín dị đoan”).
A. KIẾN TRÚC
1. Kiểu: ở miền Nam hiếm nhà 5 gian, đại đa số là nhà 3 gian – ngoại trừ những đại điền chủ hoặc các nhà quyền thế dưới thời Pháp thuộc thích xây đúc tư gia đồ sộ theo kiểu biệt thự (villa) Tây phương như dinh Huỳnh Kỳ ở thị trấn cầu Kè (Trà Vinh).
Dinh cơ Huỳnh Kỳ
Hầu hết tùy tài chánh, tùy gia cảnh đôi khi tùy diện tích, chủ gia dự định căn nhà sắp cất sẽ theo một trong các kiểu sau:
a. Một gian: chỉ có 2 hàng cột (gồm 2 cột cái, 4 cột phụ, chưa kể 2 cột hàng ba nếu có!). Ở thành phố, nhà một gian rất phổ thông sau 1945 vì đất chật; còn ở thôn quê, nhà một gian được cất nhiều sau 1960 vì lý do chiến cuộc.
Một gian trơn: vợ chồng son, nhà nghèo, đất chật cất tạm, V.V…, là những trường hợp người ta chọn cất nhà kiểu một gian trơn, kích thước trung bình 2m8 X 7m.
Nhà một gian tran
Một gian có chải: đó là trường hợp gia đinh có con cải nhưng chưa khá giả, ỉùy theo nhu cầu, có khi chủ gia cản nhả một gian làm thêm một chái (bên mặt hay trái tùy đất, tủy ý) hoặc hai chái.
Một gian có chái xây vần:
Nhà một gian có chải xây vần (Hình chụp từ sau ra trước nhà
Một gian có nhà phụ: nhà phụ có bề ngang bằng căn nhà chính nhưng bề dài ngắn hơn và thường thấp hơn. Nhà phụ thường được làm nhà bếp (nên còn được gọi là nhà khói) và phòng tắm rửa, đôi khi có cửa trổ ngang hông hoặc ở phía sau.
Một gian có chải và nhà phụ: cũng tương tự như nhà một gian có nhà phụ, nhưng có thêm 1 hoặc 2 chái nhỏ.
b. Ba gian: gồm 4 hàng cột (4 cột cái, 8 cột phụ, thường có 4 cột hàng ba). Be ngang mồi gian thường nhỏ hơn nhà một gian nhưng kê cả 3 gian thì nhà ba gian rộng gấp bội. Loại nhà này thường được gia đình đông con hoặc nông gia ưa thích vì sự rộng rãi.
Ba gian trơn: rất hiếm.
Ba gian có chải: thường thưởng có 2 chái.
Ba gian có chải và nhà phụ: cũng tương tự kiểu ba gian có chái nhưng ba gian chính được nối thêm một cản nhả phụ ngăn và thấp hom (thường cũng đủ ba gian).
Ba gian có thảo bạc: những nhà xây mặt về hưởng Tây hay Tây Nam thường được cất thêm một thào bạc nhẩm mục đích người ở trong nhà gian nhà chinh không bị hanh nắng vào buổi trưa và chiều. Thảo bạc, luôn luôn ngắn hơn gian nhà chính, có thể được cất hai mái hoặc một mái để che mặt tiền của gian nhà chính.

Thờ cúng tổ tiên

Trên nguyên tắc ai được quyền thừa kế?
Đầu tiên là nguyên tắc “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” 
nghĩa là ưu tiên cho phái nam. Con gái chỉ có thể thừ nghiệp và phần chia bao giờ cũng kém hơn con trai vì người miền Nam quan niệm “con gái là con của người ta”. 
Cháu trai đích tôn (= con trai của người con trai lớn nhất t gia đình) thừa kế cho ông bà nội. Con trai thứ hai (tức con trai đ lòng) hoặc con trai đầu (có chị lớn hơn) thừa kế cho cha mẹ cho trai thứ hai thừa kế cho bác chú nếu bác chú không con hay chỉ c con gái mà chú bác muốn lập cháu làm người thừa kế.
Người lập thừa kế trọn quyền phân chia gia sản hay lập di chúc khi còn sống (hoặc sắp chết); con cháu không có quyền đòi hỏi.
Chia gia tài như thế nào?
Căn nhà đang ở (tức từ đường) bao giờ cũng chia cho con trai lớn nhất để lo nhang khói, cúng kiếng; còn của cải, ruộng đất thi tùy ý, thường không có sự cách biệt xa.
ở miền Nam không có việc mua hậu (ở đình, chùa) nghĩa là người nào không có con cháu ruột thì cũng tìm con cháu xa hay xin con nuôi lập tự chứ không đem gia sản mua hậu ở đình chùa như ở miền Bắc để đình chùa lo tế tự mình sau khi chết.
a. THỜ CÚNG TỔ TIÊN
Đối với người miền Nam cũng như người Việt Nam nỏi chung (ngoại trừ người theo đạo Thiên Chúa hay Tin Lành) sự thờ cúng trong gia tộc tối ư quan trọng như Phan Kế Bính đã viết “xét cái tục phụng sự tổ tiên của ta rất là thành kính”4.
1. Nguyên lý: khi “còn sống ông bà cha mẹ là đại ân nhân, theo phong tục và luân lý bắt nguồn từ Nho Giáo, con cháu phải một lòng kính dưỡng hiếu thảo; lúc ông bà cha mẹ chết, con cháu cũng phải sùng bái tỏ lòng nhớ om đồng thời cầu mong tổ tiên phò hộ.
Theo tin tưởng thông thường thì khi ta sống là nhờ hồn phách phụ vào thân thề, lúc người ta chết, thi bay lên trên không mà thành ma quỷ. Phách là phần phụ vào thể xác, khi người ta chết thì tiêu xuống đất. Theo dị đoan, đàn ông có 7 phách (vía) hợp với thất khiếu (7 lỗ) trong thân thể, đàn bà có 9 phách hợp với cửu khiếu (9 lỗ) trong người. Đàn ông và đàn bà đều có ba hồn phụ vào tam tiêu 6. Khi bất tỉnh thi hồn lìa khỏi thân thể trong chốc lát, khi người ta chết thì hồn lìa khỏi hẳn xác. Bởi vậy, phách và thể xác là phần trọng trọc nên tiêu hủy đi, còn linh hồn là phần tinh anh nên vẫn còn và có đủ ý thức. Vong hồn không bị tiêu diệt nên hằng cảm thông được với kẻ sống. Vong hồn cha mẹ, tuy âm dương khác nhau, song vẫn thường dự vào cuộc sống của các cháu, của gia đình mỗi khi có điều vui, điều buồn, điều lo sợ. Tổ tiên thường phù hộ con cháu nên đôi khi vẫn đề phòng tai ách. Linh hồn tổ tiên và cha mẹ linh thiêng nhường ấy, nên làm con cháu phải phụng thờ cha mẹ tổ tiên cho trọn đạo, phải cúng cấp cha mẹ và tổ tiên cho các người ở dưới Âm phủ không phải thiếu thốn”7.
Một tác giả Pháp đã có những nhận xét về sự thờ cúng tổ tiên của người Việt như sau: “Chez rAnnmite, le Culte des ancêtres, ce n’est pas une date, un trois cent soixante cinquième de almanach, ce n’est pas le devoir sacré de tous les jours… Le mêmes survivent, et c’est une religion absolue, à peu très exclusive” (Ở người Việt Nam sự cúng lễ Tổ Tiên, không phải chỉ một lần mỗi năm, mà là bổn phận thiêng liêng hàng ngày phải giữ… Linh hồn người chết vẫn sống, đó là một tôn giáo tuyệt đối, hầu như độc tôn)9.
Thật vậy, từ chủ trương của Khổng Tử “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” (sự chết như sự sống, sự tan như sự còn), người miền Nam cũng như đại đa số người Việt, nhất là trước 1954, tin rằng âm dương tuy cách biệt nhưng chốn Diêm Vương vẫn có sự sống nghĩa là cũng phải ăn uống tiêu pha ơn đền oán trả, v.v… Từ sự tin tưởng ấy, tục thờ cúng tổ tiên được phát sinh trong đó sự biện bàn thờ là điều quan trọng hơn hết.
2. Bàn thờ (Xin đọc ở phần sau, cùng Chương I này, mục II tiểu mục C).
3. Thời gian:
a. Thờ phượng: mỗi gia đình mỗi lập bàn để thờ tổ tiên trong nhà; có khi con cháu chưa lập gia đình nhưng có tư gia cũng có quyền lập bàn thờ riêng.
Trước 1954 nhà cửa rộng rãi mới lập bàn thờ chung gọi là bàn thờ “Cửu huyền thất tổ” ở chính giữa. Khi nào ông bà nội ngoại qua đời thì gia trưởng lập thêm bàn thờ vong mới cho đến sau lễ mãn tang mới bỏ bàn thờ vong mới này mà lập bàn thờ bên nội (phía trái) và bàn thờ bên ngoại (phía mặt) ở hai bên.
Sau đỏ, nếu cha mẹ mới chết thi thờ trên bản thở vong mới; đến mãn tang, người con rước bài vị cha lên bàn thờ bên nội và bài vị mẹ lên bàn thờ bên ngoại.
Ở phố chợ thị thành, đại đa số chi lập một bàn thờ chung, ông bà cha mẹ mới chết thì cỏ thêm bàn thờ vong; mân tang thi bài vị mới được rước lên bàn thờ chung.
b. Cúng bái:
Hằng ngày: con cháu đốt nhang 2 lần (sáng sớm và chiều tối); có gia đình, đa số ở phố chợ, chỉ đốt một lần vào chiều tối.
Hằng thảng: vào ngày mùng 1 và 15 âm lịch, con cháu cúng bái ông bà bằng nhang, bông, trái cây.
Hằng năm: chính yếu là cúng bái trong ngày giỗ (hay ngày cúng cơm) và Tết Nguyên Đán.
về ngày giỗ, tùy vai của người chết và tùy theo gia cảnh giàu hoặc nghèo, tối thiểu con cháu cúng bái một ngày, tối đa hai ngày (ngày đầu gọi là “tiên thường” nghĩa là cúng ngày sống, ngày sau gọi là “chánh giỗ” nghĩa là cúng ngày chết).
Cúng tổ tiên trong dịp Tết Nguyên Đán kéo dài từ chiều 30 (hoặc 29) cho đến mùng 4, 5, 6 hay 7 (Nếu cần, xin đọc lại Phần I, Chương IV “Tết Nguyên Đán” đã được trình bày). Ở thành phố, có gia đình đưa ông bà vào chiều mùng 3 Tết để gia trưởng đi làm vào sáng mùng 4 Tết.

Luân thường và thừa kế

Anh rể nói với em vợ thường xưng “anh”, đôi khi kèm theo thứ của vợ như “anh Hai”, “anh Ba”, v.v…) hoặc “tôi”.
a. Giữa em rể với anh chị vợ: em rể xưng “em” đôi khi “tôi”, gọi anh chị vợ là “anh” hay “chị”, có khi gọi kèm sau thêm thứ trong gia đình của người được gọi như “chị Hai”, “anh Ba”.
b. Giữa em chồng với chị dâu: nếu em chồng còn nhỏ tuổi, chị dâu gọi em chồng bằng tên hay “em” xưng “chị” hoặc “chị” kèm thêm thứ của người chồng (chẳng hạn “chị Hai”); cũng có khi, nhất
là trong gia đình bình dân, chị dâu gọi em chồng bằng “mầy” và xưng “tao” hay “tui”.
Nếu em chồng đã lớn, chị dâu gọi em chồng là “chú” hoặc “cô” và xưng “chị”, “chị” kèm thứ hay “tôi”.
c. Giữa em dâu với anh chị chồng: em dâu xưng là “em” hoặc “tôi” và gọi anh hay chị chồng là “anh”, “chị” hoặc kèm thêm thứ của người được gọi.
d. Giữa anh chị em ruột hay anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha: vai lớn xưng “anh”, “chị” hoặc “tao”, “tui” và gọi vai nhỏ bằng tên, “em” hoặc “mầy”. Còn vai nhỏ thì xưng “em”, gọi vai lớn là “anh”, “chị” hay kèm thêm thứ.
e. Giữa anh chị em cột chèo
Hai người lấy hai chị em: vai lớn xưng “anh”, hay “tôi”, gọi vai nhỏ là “dượng” hoặc kèm thêm thứ. Vai nhỏ gọi vai lớn bằng “anh” (hoặc kèm thêm thứ) xưng “em”.
Hai người lấy hai anh em trai: vai lớn xưng “chị”, gọi vai nhỏ bàng “thím” hoặc kèm thêm thứ. Vai nhỏ xưng “em”, gọi vai lớn bằng “chị”, đôi khi gọi thân mật là “bác gái nó” (nếu vai nhỏ có con).
Một người lấy anh, một người lấy em gái: vai lớn xưng “chị” gọi vai nhỏ là “dượng” hoặc kèm thêm thứ. Vai nhỏ xưng “em”, gọi vai lớn là “chị” hay “mợ” kèm thêm thứ.
Một người lấy chị, một người lẩy em trai: vai lớn xưng “anh”, gọi vai nhỏ là “em” hay “mợ” kèm thêm thứ.
j. Giữa người lớn với cháu: người lớn xưng bằng vai của mình (chẳng hạn, “bác”, “chú”, “cô”, “dì”, v.v…), có khi xưng “tao” (thường trong gia đình bình dân), gọi cháu bằng tên, “cháu” hay “mầy”. Đứa cháu, dù lớn hay nhỏ tuổi vẫn xưng “cháu” và gọi người lớn bàng vai của người đó (như “bác”, “chú”, “cậu”, “mợ”, v.v…).
Nhận xét tổng quát, chúng ta có vài ghi nhận về cách xưng h’ trong gia đình miền Nam như sau:
Chữ “tôi” hay bị nói trại thành “tui” ở lớp người bình dân Đổi với người miền Nam chữ “tôi” có vẻ thiếu thân mật nên chỉ được dùng để gọi bà con xa hoặc khi có điều gì buồn phiền người bà con gần.
Khi đồng vai, họ dùng chữ “tao” và “mày” tỏ vẻ thân mật (nếu nói nhã nhặn, dịu dàng); còn “tao” hay “mầy” nói gằn mạnh giọng là khi bực mình, tức tối.
Người miền Nam ưa thêm dấu hỏi trên các vai gọi khi người được đề cập vắng mặt; gặp người khó tánh, con cháu sẽ bị nạt liền. Thí dụ: “ổng”, “bả”, “cổ”, “cẩu”, v.v.. , có thể bị bắt lỗi rằng “Cẩu gì? Cẩu là chó hả?”.
Đặc biệt ở quanh phố chợ tỉnh lỵ, quận lỵ (nhiều nhất ở miền Tây), trong gia đình gốc người Triều Châu (= Tiều), họ có cách xếp vai và tiếng gọi nhau hơi khác người miền Nam chánh gốc như sau:
về cách xếp vai: ừong loại anh chị em chú bác, cô cậu, bạn dì hoặc anh em đồng đời (= đồng lóp), hễ ai lớn tuổi hơn thì được làm anh chị chứ không như người Việt (cả ba miền) kể con nhà vai lớn (như con nhà bác, con nhà cô lớn, con nhà cậu lớn) thì luôn luôn làm anh chị con nhà vai nhỏ đồng lớp dù nhỏ tuổi hơn.
về tiếng gọi: họ dùng tiếng Tiều gọi nhau, lâu ngày thành Việt ngữ như: cốc = cố; bà cốc = bà cố; côn = nội hay ngoại; ông côn = ông nội hay ông ngoại; bà côn = bà nội hay bà ngoại; pề = bác trai; úm = bác gái; chệt = chú hay cha; sím = thím; cô 1 cô (giống người Việt!); ý = đì hay cô; tỉa = dượng; củ = cậu; mợ = kiểm; hia I anh; số – chị dâu; chế = chị; mứng = anh rể; tì = em trai; muội = em gái; kỉa sai = rể; tùa = lớn hay cả (Thí dụ: “tùa ý” là dì lớn; “tùa củ” là “cậu lớn”).
1. Luân thường và thừa kế
a. Luân thường trong gia tộc: theo Thanh Nghị, luân thường là “Phép tắc lẽ thường ở đời”2 và theo Đào Duy Anh trong Hán – Việt tự điển là “phép tắc chính thường của loài người nên theo”3. Trong phạm vi gia tộc miền Nam, luân thường gồm có:
Bà con bên nội không được quyền lấy nhau; tội nặng nhất là loạn luân giữa cha con, mẹ con, anh chị em ruột.
Bà con bên ngoại thì anh chị em cô cậu, anh chị em bạn dì ăn nằm hay lấy nhau cũng phạm tội nặng; cậu cháu hay dì cháu ăn nằm hay lấy nhau bị kết án loạn luân rất nặng.
Từ bực cháu trở đi, lệ không cấm nhưng người miền Nam cũng kiêng cữ ngoại trừ trường hợp bất khả kháng (như lỡ lấy nhau vì không biết bà con, lỡ quá nặng tình không thể dứt).
1 Cũng giống như các nước khác, nhất là các nước Đông phương, ở miền Nam con cháu không được quyền đánh đập chửi bới ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì; cũng như người ta sẽ chê cười khi con cháu kiện các bậc lớn vai gần gũi với mình (nhất là ông bà, cha mẹ). Con cháu mà kiện, đánh, chửi ông bà, cha mẹ tức là bất hiếu, bất mục và “cam đanh phạm nghĩa”.
b. Thừa kế (= kế thừa): gồm 2 loại:
Thừa kế tôn thống: nhằm mục đích tế tự tổ tiên, lưu truyền huyết thống gia tộc.
Thừa kế sản nghiệp: để duy trì và phát triển sản nghiệp của dòng họ.
Thừa kế phải được lập theo thứ tự “chiều thuận” nghĩa là lớn cho nhỏ thừa kể, chứ nhỏ vai không được lập thừa kế cho người lớn. Người thừa kế có thể bị truất phế nếu kém đức hanh hoặc bị bệnh điên khùng; bỏ người cũ và lập người thừa kế mới gọi là “lập ái” hay “lập hiền”.

Cách xưng hô trong gia tộc

Con lập tự có thể thuộc họ hàng hoặc người dưng, nhưng điều quan trọng là phải làm sổ đinh hoặc giấy khai sanh theo họ người cha nuôi và được đối đãi như con ruột.
Nếu cha mẹ tới già mà không có con ruột, con nuôi lập tự sẽ hưởng trọn gia tài khi cha mẹ nuôi qua đòi và phải có nhiệm vụ lo thờ phượng, tế tự tổ tiên y như con cháu ruột.
Nếu cha mẹ có con ruột, con nuôi lập tự hưởng một phần lớn gia tài và vẫn chủ chốt trong việc thờ cúng.
a. Gia nhân: tuy không cùng huyết thống với gia đình nhưng kẻ làm công cũng được coi là một thành phần trong gia đình.
Gia đình lao động hoặc túng bấn mới không có gia nhân; ở miền Nam, nhà kha khá hoặc trung lưu trở lên ưa mướn người làm.
Gia nhan đây có thể là con ở, bà vú, chị bếp, thằng hay con bé chăn trâu, ông làm mướn,v.v..
Với tinh thần phóng khoáng hào sảng, đồng bào miền nam hiếm có thái độ quan liêu hau khinh miệt gia nhân trừ thiểu số gia đình quyền thế, cường hào, ác bá. Hầu hết gia nhân ăn uống chung với gia chủ; cách xưng hô sai bảo đối với gia nhân cũng như người trong gia đình không có gì quá phân biệt; nhiều người làm lâu năm được chủ tin yêu giao phó công việc hoặc tài sản quan trọng và có nhiều ý kiến đôi khi biến thành quyết định trong gia đình.
Bù lại gia nhân có nhiệm vụ tận tình giúp đỡ và đối xử lễ độ với gia chủ cùng mọi người trong gia đình đồng thời trông nom gìn giữ gia sản. Nhưng trên thực tế lắm trường hợp gia nhân xao nhãng bổn phận, có khi phản chủ vì sự dễ dãi ơ hờ của gia đình miền nam
2. Cách xưng hô trong gia tộc
a. Giữa vợ chồng: Trước năm 1945, vợ chồng chưa có con hoặc còn trẻ gọi nhau bằng mình trừ thiểu số trí thức mới bắt chước tây xưng gọi tên nhau hay bằng anh hoặc anh em. Trong gia đình lao động ruộng rẫy chồng có khi gọi vợ bằng mầy; khi có con vợ chồng thường lấy tên con để gọi như ba thằng đực, tía con bông, má thằng cu, má con gái … Khi về già, vợ chồng người miền nam thường gọi nhau ông hay bà
Về tự xưng giữa vợ chồng người miền nam ưa dùng tui hoặc tôi, đôi khi xưng anh hay em, khi mới lấy nhau hoặc giữa cặp vợ chồng có ăn học cao và theo mới hoặc nói trổng trong gia đình bình dân ruộng rẫy chẳng hạn: Hổng cần ăn uống! Đi sướng hơn, Dọng đi, Ai thèm…
Từ sau 1954, càng ngày “mình” càng bớt phổ thông ở thành phổ- “anh” hay “em” phổ biển hơn; “ông” hay “bà” vẫn như cũ.
b. Giữa con cái và cha mẹ: trước 1945, trong gia đình có giáo dục, con cái nói chuyện với cha mẹ phải xưng “con” trong mỗi câu. Con gọi cha bằng “ba”, “cha” hay “tía” (trong giới bình dân); thỉnh thoảng có con cái gọi cha bằng “cậu” hay “anh” (nếu “xấu hái” có nghĩa là con khó nuôi). Khi nói chuyện với người khác, con gọi gián tiếp cha mẹ bằng “ba tôi” (hay “ba tui”) hoặc “má tôi” (hay “má tui”), có khi bằng “ổng” hoặc “bả”. Con gọi mẹ bằng “má” hay “vú”, đôi khi gọi bằng “mợ” hay “chị” nếu “xấu hái”.
Từ sau 1954, xưng “con” vẫn phổ thông khi nói với cha mẹ; thỉnh thoảng người con trung niên hay già xưng “tôi” với cha mẹ già.
c. Giữa cháu với những người lớn: người cháu trong gia đình miền Nam thường xưng “cháu” hoặc “con”.
Với ông bà: đối với ông bà trực hệ, tùy người nói chuyện, đứa cháu gọi “ông cố”, “bà cố”, “ông nội”, “bà nội”, “ông ngoại”, “bà ngoại”; đôi khi gọi nhanh, bỏ bớt chữ “ông” hay “bà” nên chỉ gọi “cố”, “nội” hay “ngoại”.
Đối với ông bà bàng hệ, tùy người nói chuyện, đứa cháu gọi “ông bác”, “bà bác”, “ông chú”, “bà thím”, “bà cô”, “ông dượng”; đôi khi gọi nhanh, cũng bỏ bớt chữ “bác”, “chú”, “cô”, “dượng” nên chỉ gọi “ông” hay “bà”.
Với anh trai của cha: người cháu gọi “bác” hay “bác Hai”, “bác Ba”, v.v… tùy thứ trong gia đình; khi ám chỉ gián tiếp, anh của cha thường được gọi là “bác ấy” hay “bác Hai, “bác Ba”, v.v…Vợ của bác được gọi là “bác gái” hay “bác”.
Với em trai của cha: người cháu gọi “chú”. Khi ám chỉ gián tiếp, chú được gọi “chú Ba”, “chú Tư”, “chú Năm” (tùy thứ trong gia đình) hoặc “chú ấy” hay “chủ” (khi nói nhanh, cũng có thể bị la
rầy). Vợ của chú được gọi là “thím” hay “thím Ba”, “thím Tư” v.v…, tùy thứ trong gia đình.
Với chị em gái của cha: người cháu gọi “cô” hoặc “cổ” (á chỉ gián tiếp), chồng của cô được gọi là “dượng” hoặc “dường’’ (ám chỉ gián tiếp).
Với anh em trai của mẹ: người cháu gọi “cậu”, đôi khi ám chỉ gián tiếp gọi “cậu” (nhưng đứa cháu có thể bị la rầy vì “cẩu” theo nghĩa Hán Việt là “chó”). Vợ của cậu được gọi “mợ” hoặc “mở” (ám chỉ gián tiếp, nhưng cũng có thể bị la rầy như khi gọi “cẩu”).

Với chị em gái của mẹ: người cháu gọi “dì”, chồng của dì được gọi là “dượng” hoặc “dượng” (ám chỉ gián tiếp).
a. Giữa anh rể với em vợ: nếu em vợ còn vị thành niên (dưới 18 tuổi), anh vợ gọi em vợ bằng tên hay “em” và xưng “anh”. Trong gia đình bình dân (lao động hay làm ruộng rẫy), anh rể ưa gọi em vợ còn nhỏ bằng “mầy” và xưng “tao” hay “tui”.
Nếu em vợ đã trưởng thành, anh rể gọi em vợ bằng “cậu” (cho nam phái), “dì” (cho nữ phái) có kèm theo thứ của người được gọi như “cậu ba”, “cậu bảy”, “dì năm”, “dì tám”, v.v…; cũng có khi anh rể gọi em vợ thành niên theo công thức “cậu” hay “dì” cộng theo thứ trong gia đình và chữ “nó” (thí dụ: “cậu Tư nó”, “cậu út nỏ”, “dì Năm nó”, “dì út nó”, v.v…).

về các cá nhân ngoài gia trưởng và vợ

B. TƯƠNG QUAN CÁC CÁ NHÂN TRONG GIA TỘC
1. về các cá nhân ngoài gia trưởng và vợ
a. Ông bà: là cha mẹ của gia trưởng hay vợ của gia trưởng, được mọi người trong nhà kính trọng, săn sóc trong mọi vấn đề. Ông bà nếu không sở hữu và quản trị tài sản, ngân quỹ gia đình cũng có nhiều ý kiến mà con cháu thường làm theo (vì kính nể hoặc tin tưởng kinh nghiệm).
Ông bà ngoại thường được con cháu đặt nhiều tình cảm hơn; còn ông bà nội thường là người có nhiều uy quyền khiến con cháu nể nang, có khi đến chỗ sợ sệt.
Ông bà, nói chung, sổng an nhàn hơn tất cả các cá nhân khác trong gia đình dù giàu nghèo. Gặp gia đình khá giả, ông bà có kẻ hầu người hạ. Bà thì quanh năm suốt tháng nhõm nhẽm trầu cau;
nay chùa, mai giỗ, mốt dự đám hỏi, cưới, tang. Còn ông thì vui thú cầm, kỳ, kiểng hoa hoặc ép bầy cá, nuôi gà nòi, tiệc tùng rỉ rả, trà rượu hằng ngày. Gặp nhà nghèo, sự nhàn hạ kém đi phần nào nhưng ông cũng thường rảnh rang nằm vống, phì phèo thuốc vấn hay thuốc điếu, trồng kiểng, khề khà chung trà hoặc chén rượu; còn bà tuy phải phụ lực với con cháu nhưng vẫn không quên trầu cau thuốc xỉa.
b. Con cháu: là kẻ nhỏ, nhiệm vụ chính yếu là làm những việc lặt vặt. Gặp gia đình quá nghèo, không thể đi học được thì nhiệm vụ phụ giúp sinh kế là chính yếu, thứ đến là giúp việc nhà.
Con cháu phải kính nể ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, nghe lời bác chú cô dì, phải lễ độ với người lớn tuổi dù người đó là kẻ ăn người ở cho gia đình.
c. Re dâu: gia đình miền Nam, về chú rể, ưa bắt rể út; về cô dâu, ưa bắt dâu trưởng.
Nhìn tổng quát, người Nam quý rể hơn Bắc và Trung, dễ dãi với con rể, “thương con thương rể” nên coi “rể như con”, ít bắt lỗi phải, rể sai quấy được chỉ bảo răn dạy như con ruột; chẳng hạn trong các dịp quan hôn tế tự tết nhất, chú rể ở xa không về được cũng không bị coi là lỗi nặng (ngoại trừ tang ma), tết nhất lễ lộc có sơ sót thiếu kém cũng bỏ qua.
Anh rể cũng có quyền hướng đẫn các em vợ, cháu vợ và có trách nhiệm nuôi dưỡng, đùm bọc con cháu bên vợ. Cháu rể cũng phải kính nể ông bà cha mẹ chú bác cô dì, cậu mợ, v.v…, bên vợ như bà con ruột thịt của mình.
về cô dâu, ở miền Nam, mới lấy chồng, không nhất thiết phải làm dâu. Làm hay không tùy hoàn cảnh và tùy chồng.
Cũng như rể, “dâu như con” nên ở miền Nam ít cảnh khổ vì “mẹ chồng nàng dâu” đành rằng đôi khi mẹ chồng cũng khó khăn với nàng dâu; còn cha chồng và ông bà chồng thường dễ dãi với cô dâu.
Nếu ở chung bên chồng, nàng dâu có nhiệm vụ giúp các Về nội trợ với mẹ chồng; gặp trường hợp cha mẹ chồng già yếu nan dâu phải cáng đáng mọi việc.
Nếu ở riêng, tự do hơn nhưng lại cực hơn vì phải gánh vác tất cả việc nội ữợ và nuôi nấng con cái và đến ngày giỗ quảy bên chồng hoặc lễ tiết (như Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ), con dâu dù bận bịu cũng phải cố gắng về nhà chồng phụ lực bếp núc, dọn dẹp nhà cửa.
Nàng dâu phải thương yêu và lo lắng cho các em chồng, cháu chồng và phải kính nể các vai lớn bên chồng.
d. Vợ bé: trước 1945, đàn ông khá giả và quyền thế thường có vợ bé, đôi khi công khai. Kể từ sau đó đến 1975, chuyện có vợ bé là chuyện lén lút và rất ít. Từ 1975 đến nay, hiếm đàn ông kiếm vợ bé, nếu có vẫn phải giấu giếm.
ở miền Nam, dù trước 1945, hiếm có chuyện vợ lớn đi cưới vợ bé cho chồng. Hầu hết có vợ bé là do chồng thích thì tự tìm lấy mà vui hưởng. Cũng hiếm có cảnh “một kiểng hai huê” ở chung nhà; thường thường vợ bé ở riêng, tùy tình cảm, tùy vợ lớn non hay “già tay ấn”, người chồng ở nhà vợ ít hay nhiều; nói chung, đàn bà miền Nam tánh thuần hậu, ít đanh đá nên ưa có cảnh chồng mê mệt vợ bé, quên vợ hiền và bầy con nheo nhóc lẫn mẹ già như các ca dao dưới đây diễn tả:
Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.
Con thơ tay ẵm tay bồng,
Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thủng bông.
Con của vợ bé gọi vợ lớn bằng “má lớn” hay “má”. Con của vợ lớn gọi vợ bé bằng “dì” hay “má nhỏ” khi vợ lớn còn sống hoặc “má” khi vợ lớn đã chết. Con của vợ lớn xưng “con” với vợ bé nhưng khi bất mãn chuyện “dì” quyến rũ cha mình thì xưng “tôi”.
e. Con nuôi: giống miền Bắc và Trung rất nhiều điểm. Gồm 2 loại con nuôi:
* Con nuôi thường’, gia đình nào nhận con nuôi thường là trường hợp:
Sanh con nhiều nhưng yểu tử hoặc hiếm muộn, xin con nuôi để “đổi đầu con”.
Sanh toàn trai hoặc toàn gái thì xin đứa khác phái với phái con mình đang có để “đổi đầu con” hoặc “vui cửa vui nhà”.
Cha mẹ đứa bẻ thuộc dòng họ nhưng mất sớm hoặc quá nghèo. Trong trường hợp cha mẹ quá nghèo thì về sau khá giả giàu sang có thể xin lại đứa bé.
Con nuôi thường có thể lấy họ cha mẹ nuôi hoặc không, nhưng điều căn bản là đứa bé này không phải là người nối dòng chính yếu. Tùy gia đĩnh, có thể sướng hay cực, nhưng nói chung, con nuôi thường không được hưởng nhiều ân huệ bằng con nuôi lập tự.
* Con nuôi lập tự: trước 1945, gia đình nào không con trai hoặc hiếm hoi không con trai nối dòng và lo tế tự thi người ta ưa chọn con nuôi lập tự.

Thành phần gia đình

– thực tế: kế bà con xa thì quá đông sẽ mất công giao dịch,
tiếp xúc phiền phức như câu nhiều người ta thủi c..
Tóm lại, bà con bên nội theo trực hệ gồm có: ông bà sơ (= cao cao tổ), ông bà cố (= tằng tổ phụ mẫu), ông bà nội (= tổ phụ mẫu), cha mẹ (= phụ mẫu), con (=tử), cháu (= tôn), chắt (= tằng tôn), chút (= huyền tôn), chít (= viễn tôn).
Theo bàng hệ nam gồm có: ông bác (= tổ bá phụ), ông chú (= tổ thúc phụ), bác (= bá phụ), chú (= thúc phụ), anh chị em chú bác (- tòng huynh đệ và tòng tỉ muội), cháu (= tôn).
Theo bàng hệ nữ gồm có: bà cô, cô, anh chị em cô cậu (= biểu huynh đệ và biểu tỉ muội), cháu (= tôn).
a. Bên ngoại: so với phong tục miền Bắc và Trung, người miền Nam tương đối thân thích với bà con bên ngoại hơn tuy không sao bằng bên nội theo câu: “Thắng về nội, thối về ngoại”. Sau đây là sơ đồ thân tộc bên ngoại mà đồng bào miền Nam coi là thân thích, ưa giao dịch hoặc lo dự cúng quảy trên thực tế:
Nhìn sơ đồ trên bà con bên ngoại được kể ít hơn bên nội nhưng trên thực tế tình thân thiết rất đậm đà cho những người được kể.
2. Thành phần gia đình: người miền Nam không sống theo đại gia đình. Mỗi căn nhà tối đa chứa 15 người. Gia đình nào con cháu đông thì ông bà cha mẹ cho ra riêng; khi nào có giỗ quảy, lễ tiết, tiệc tùng thì vợ chồng con cái về và cũng được coi như người ừong gia đình. Thành phần gia đình phổ thông gồm 4 đời: ông bà, cha mẹ, con, cháu.
a. Ông bà: trên nguyên tắc gồm ông bà nội và ông bà ngoại nhưng thường mỗi căn nhà chỉ gồm 1 đến 2 trong 4 người.
b. Cha mẹ: là cột trụ của gia đình, phổ thông chỉ gồm 2 người; tuy nhiên trước 1945 gặp gia đình đa thê có khi là 3 hoặc 4 nhưng thường người vợ bé ở riêng.
c. Con: trước 1975, nhất là trước 1954, số con không được hạn định. Nói chung, gia đình miền Nam khá đông con, nhất là ở miệt Hậu Giang: 3 đến 10 là chuyện thường; thỉnh thoảng có trên 10 đến 20.
d. Cháu: rất khó hạn định, tùy theo số con nhưng thông thường tối thiểu cũng có 2 đứa cháu nội hay ngoại.
3. Quyền hạn, nhiệm vụ của gia trưởng và vợ
a. Gia trưởng: ở miền Nam, quyền gia trưởng thường được giao cho người cha mặc dù ông bà còn sống và ở chung; trên nguyên tắc, là gia trưởng người đàn ông có thế lực hơn cả trong gia đình; trên thực tế, người vợ của gia trưởng có nhiều ảnh hưởng trong quyết định của gia trưởng.
Sau đây là những quyền hạn căn bản của gia trưởng:
Sở hữu và quản trị tài sản, ngân quỹ gia đình quyết định giáo dục, hôn nhân của con cái có quyền bắt vợ con đi làm thuê, ở mướn.
về nhiệm vụ, chúng ta nhận thấy: thuở xưa (trước 1945) nhiệm vụ đầu tiên của gia trưởng là lấy vợ, sinh con nhất là con trai để nối dõi tông đường; kể từ 1945 ừở về sau, vấn đề nối dòng hơi bị xao lãng vì ảnh hưởng chiến cuộc và văn minh Âu Mỹ.
Sau đó, gia trưởng còn là:
Chủ chốt sinh kế gia đình (nặng nhất!).
Người lo thờ cúng ông bà tổ tiên.
Người lo giáo dục, hướng dẫn và có trách nhiệm trước dư luận và pháp luật về hành vi của một người ứong gia đình từ vai nhỏ ứở xuống (nếu người trong gia đình từ 18 tuổi trở lên thì chỉ có trách nhiệm tinh thần).
Gặp trường hợp kiêm chi trưởng hay tộc trưởng của một dòng họ, gia trưởng còn có các quyền hạn và nhiệm vụ sau:
Hưởng phần hương hỏa và là cột trụ các cuộc tế tư.
Tham dự hội tồng gia tộc, phân xử các việc tranh chấp về thừa kế ừong dòng họ.
Đại diện chi hay tộc để giao dịch với dòng họ khác hoặc với chính quyền ữong những công việc quan hệ đến dòng họ.
Luôn có mặt trong các việc quan, hôn, tang thuộc chi tộc.
b. Vợ của gia trưởng: hơi khác với miền Bắc và Trung, vợ của gia trưởng miền Nam tương đối có nhiều quyền hành đồng thời cũng chịu trách nhiệm với gia trưởng theo câu “của chồng công vợ”. Vợ của gia trưởng có các quyền hạn sau:
* Phụ lực quản trị tài sản và ngân quỹ gia đình; đôi khi là sở hữu chủ nhiều tài sản quan trọng (ở gia đình trưởng giả hay giàu có, chồng ưa cho vợ đứng tên mua ruộng đất, đồn điền, cơ xưởng, xe, nhà).
* Có ý kiến về giáo dục, hôn nhân tương lai, v.v…, của con cái.
Song song với quyền hạn, vợ của gia trưởng lãnh các nhiệm vụ:
Sinh, nuôi, dạy con.
Phụ lực với gia trưởng lo sinh kế hoặc phát triển ngân gia đình (như chơi hụi hay nuôi heo gà vịt).
Chịu trách nhiệm tinh thần trước dư luận và pháp luật Ỳ hành vi của các cá nhân trong gia đình từ vai nhỏ trở xuống.
Tóm tắt về gia trưởng và vợ, chúng ta nhận thấy: địa vị người đàn bà miền Nam khả quan hơn miền Bắc và Trung. Miền Nam hầu như không áp dụng thất xuất  một cách đầy đủ; muốn bỏ hay để vợ, người chồng chỉ có 2 lý do chính đáng mà không bị gia đình bên vợ cũng như dư luận trách móc là ngoại tình có bằng cớ và trộm cắp gian manh làm bại hoại gia phong.
Trước 1945, đại đa số vợ chồng miền Nam không lập hôn thú trước pháp luật nên dễ bỏ vợ; nhưng trên phương diện giao tế nhân sự, bỏ vợ mà không đủ một trong hai lý do chính đáng kể trên thì người chồng khó sống an thân. Trong giai đoạn 1955-1975, từ lúc bộ luật gia đình của bà Ngô Đình Như đề nghị, chấp thuận và ban hành, vấn đề bỏ vợ ở miền Nam trở nên phức tạp và khó khăn.

Phong tục trong gia đình gia tộc nhà cửa

a. Cuộc tiệc: hầu hết cuộc tiệc ăn mừng được tổ chức tại tư gia (ngoại trừ cuộc vinh quy bái tổ của các khoa bảng triều Nguyễn hoặc các chức sắc hay nhà quyền thế mượn đình hoặc công sở có chỗ rộng rãi để khoản đãi đông người). Thuở xưa ở miền quê luôn tổ chức vào 12 giờ trưa; còn ở thành thị, người ta thích mở cuộc tiệc ăn mừng khi trời đã tối hoặc có khi tổ chức ở các tửu quán cao lâu.
Tiệc mừng cũng giống như đám cưới nghĩa là phải có lời mời hoặc thiệp mời người quen biết, bà con tới chia vui (ngoại trừ trường hợp quan lớn ăn mừng thì các tay em út dù có mời hay không cũng tự động lễ mễ tham dự).
Tùy hoàn cảnh, bề thế, tùy địa phương, khách khứa thường mua hoặc làm đồ tặng vừa làm quà mừng vừa để kỷ niệm tình thân thiết đôi bên. Đồ mừng phổ thông là:
Bức đại tự bằng gỗ quý hay sơn mài.
Bức tranh sơn thủy hay son mài.
Bộ tranh tứ thời.
Cặp liễn đối.
Cặp rượu Ngũ Gia Bì, Mai Quế Lộ, Con Bìm Bịp hỊart Champagne, Whisky, Bordeaux, V.V..
Hộp bánh trà.
Những câu văn thông dụng để chúc mừng như:
Phước như Đông Hải.
Thọ tỷ Nam San.
Phú quới vinh huê.
Vạn sự như ý.
Kim ngọc mãn đường.
Bá niên hảo hợp.
Vạn thượng vân mãi.
Trung hiếu lưỡng toàn.
Trong cuộc tiệc, phái nam và phái nữ đều được tham dự; thông thường các bà, các cô ngồi riêng mâm; nhưng từ sau 1954 có chủ gia tân tiến cho các cô cậu ngồi lẫn lộn nhau cho “vui cửa vui nhà”.
Các bà, các cô ăn uống nhấm nháp, nói năng nhỏ nhẻ. Còn phía các ông, rượu vào lời ra, câu qua tiếng lại ồn ào, ăn chẳng mấy mà rượu nhấp luôn miệng nên sau tiệc mừng thường có dịp “cho chó ăn chè” hay có cảnh “quất cần câu” hoặc “nằm sớp lớp”; thỉnh thoảng gặp người có tính xấu bị rượu làm nóng nảy nên bắt đầu cuộc cãi cọ đưa đến ẩu đả nhưng thường được can ngăn.
Gặp chủ gia cỏ máu văn nghệ, thường sau cuộc tiệc còn có đàn ca hát xướng kéo dài thêm đôi ba tiếng đồng hồ.
CHỦ THÍCH
1 Hai người tự nắm một bàn tay của minh lại và cùng đọc câu: “Đánh tù tì, ra cái gì, ra cái này”. Khi đọc đến chữ “này”, mỗi người phải bung ta một dấu hiệu: cái kéo, cái bao hay cái búa. Theo luật đánh tù tì, cái kéo cắt (= thắng) cái bao, cái bao trùm (= thắng) cái búa và cái búa đập (= thắng) cái kéo.
2. Chốt còn được gọi là “tốt”, được coi là lính khinh binh trong bàn cờ.
3. Các chữ viết trên hành tỏ đều là chữ Hán, nhưng vì lý do kỹ thuật ấn loát, chúng tôi xin phép ghi bằng chữ Việt.
4. Xđt “Thú vui vườn ruộng miền Nam” của Xuân Tước trong Trông vời quê
cũ (Miền Nam), Làng Văn, Toronto, Gia Nã Đại, 1996.
5. Xđt Tân Châu của Nguyễn Văn Kiểm, sđd, tt 376-424 tập san Thời Nay
số 297 ngày 1-3-57, tt 92-98 bài Đánh chim của Xuân Tước.
6. Xđt “Miền Nam: Sinh hoạt âm nhạc truyền thống” của Nguyễn Thuyết Phong trong Tuyển tập những cây viết miền Nam, Tập II, nxb Phù Sa, 1990, tt 399-406.
7. Xđt “Thú câu cá ở miền Nam” của Toan Ánh trong Các thú tiêu khiển Việt Nam, nxb Mũi Cà Mau, 1993, tt 237-247.
8. Xđt Tán Châu của Nguyễn Văn Kiểm, sđd, tt 356-375.
9. & 10. Việt Nam phong tục của Phan Ke Bính, sđd, tr 173.
11, 12, 13, 14, 15& 16. Căn cứ vào “Giao kèo chơi hụi” (được in săn để bán).
PHẦN III  PHONG TỤC TRONG GIA ĐÌNH GIA TỘC NHÀ CỬA
Gia đình là nền tảng của xã hội, nhất là gia đình Việt Nam nói chung, miền Nam nói riêng. Khảo về phong tục miền Nam, chúng tôi bắt đầu đi vào phần gia tộc và nhà cửa là hai điểm căn bản.
L GIA TỘC
Điểm đáng lưu ý là gia tộc người miền Nam không có gia phả.
A. THÀNH PHẦN, QUYỀN HẠN, NHIỆM vụ
1. Thành phần gia tộc: miền Nam cũng như Bắc và Trung đều theo chế độ phụ hệ nên, trên nguyên tắc, bà con bên nội được coi trọng hơn bà con bên ngoại (nhưng về tình cảm thì bà con bên ngoại thường thương nhau hơn!).
a. Bên nội: gồm những người đồng huyết thống, cùng một ông tổ. Cùng mang một họ bao gồm 9 đời gọi là cửu tộc, chia ra làm 3 thế hệ: quá khứ, hiện tại, tương lai.

Theo sơ đồ trên, chúng ta thấy trực hệ gồm 9 đời bà con, bàng hệ gồm 4 đời bà con. Nhưng trên thực tế, ở miền Nam sống chung hay có nhiều giao dịch thường chỉ 4 đời (gọi là “tứ đại đồng đường”) ở trực hệ là: tổ phụ mẫu, phụ mẫu, tử, tôn.

So với Bắc và Trung, người miền Nam ít kể bà con với những người có huyết thống xa vì hai lý do chính:

Không cỏ gia phả: trước 1945 trong sổ 1.000 đình miền Nam may ra mới có một gia đình có gia phả bởi bản tính sống giản dị, không ưa ghi chép văn tự, cho nên nhiều bà con xa không thể nhở hết để giao tế và chỉ bảo cho con cháu. Còn sau 1945 đi tìm một gia phả ở miên Nam là chuyện không dễ. Vì vậy ở miền Nam dê xảy ra canh bà con gây gổ, đánh lộn, thù hằn, yêu nhau, có khi lấy nhau mãi về sau mới biết là bà con xa.

Hội ái hữu tương tế

không làm khó dễ gì với họ hàng chủ hụi.
1. Hội đoàn: như chúng tôi đã nói, người miền Nam kém óc tổ chức, thích an nhàn đơn giản nên đoàn thể hiệp hội cũng có, cũng vô; nhưng trước 1954 hầu hết sự tổ chức và liên lạc hội đoàn ở miền Nam thiếu chặt chẽ; vì thế đa số yểu tử, lập ra đôi ba năm, cao lắm là 10 năm nếu không tự giải tán thì cũng có xác mà không hồn, ngoại trừ thiểu sổ như Hội Thượng Công Quý Tế (thành lập từ năm 1914 vẫn còn hoạt động, có nghị định, có điều lệ và nội quy rõ ràng và có ngân quỹ dồi dào).
Trước 1945 đa số hiệp hội tự hoạt động, thiếu tư cách pháp nhân nghĩa là không có giấy phép. Từ 1954 trở về sau, người miền Nam sáng mắt ra, thành lập nhiều đoàn thể chu đáo hơn nhưng vẫn chưa theo kịp các hội đoàn của người Bắc.
Sau đây chúng ta kể tên, ngày thành lập và cước chú (nếu có) của một số hội đoàn ở miền Nam có xin phép hoạt động của Bộ Nội vụ trước 1975.
a. Hội ái hữu tương tế:
* Có tính cách toàn miền Nam:
Hội Nam Việt Nha Y Liên Hữu, 18-11-1935, giải tán trước 63.
Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế, 19-04-1945.
Àssocation des Locataires, 02-10-1952, giải tán trước 1963.
Association Amicale et Professionelle des Médecins
Diplômés Vietnamiens du Sud Vietnam, 04-12-1952, giải tán
trước 1963.
Hội Lao Công Tương Tế, 01-12-1953, giải tán trước 1963.
Hội Người Mướn Phố Bình Dân, 15-12-1954.
Nam Việt Tư Thục Hiệp Hội, 11-05-1956, giải tán trước 1963.
Hội Thuyền Chủ Việt Nam Tại Nam Việt, ? giải tán trước 1954.
Việt Nam Tài xế Đồng Nghiệp Hội Nam Việt, ?, giải tán trước 1963.
Société de Secours Mutuels du Personnel des Travaux Publiques du Sud Vietnam.
* Có tính cách địa phương:
Groupes d’Epargne des Instituteurs de Tân An 20-11-193.
Amicale de Instituteurs (Vĩnh Long), 24-05-1935, giải tán trước 1963.
Caisse des Écoles de Bạc Liêu, 23-07-36, giải tán trước 1963.
Hội Lương Hữu Nam Nữ Giáo Viên, 16-11-1942, ở Mỹ Tho.
Société de Secours Mutuels des Originaires de Mỹ Tho 11- 08-1943.
Société de Secours Mutuels des Originaires de Sa Đéc 13- 01-1947.
Société de Secours Mutuels des Originaires de Soc frang Baclieu, 17-12-1947, đổi tên là Hội Tương Tế An Xuyên – Ba Xuyên
Hội Hà Tiên Tương Tế, 03-09-1951.
Hội Linh Xuân Nam Nữ, 15-09-1952, giải tán trước 1963.
Hội Ngư Nghiệp Vàm Láng, 20-09-1952, ở Gò Công.
Hội Long Xuyên Tương Tế, 06-02-1953, đổi tên là An Giang
Tương Tê .
Hội Tân Nghĩa Tương Tế, 01-06-1954.
Hội Trà Vinh Tương Tế, 20-10-1954.
Hội Tấn Lập Tương Tế Nam Nữ, 31-10-1954.
Hội Tương Tế Bến Tre, ? , trước 1975 ở 86 Thoại Ngọc Hầu, Gia Định do ông Nguyễn Văn Ươu làm hội trưởng.
b. Hội tôn giáo tể tự:
* Có tính cách toàn miền Nam: rất ít.
Association Phật Học Nam Việt, 19-09-1950, đổi tên là Hội Phật Học Nam Việt.
Hội Thần Hoàng Bổn Cảnh, 26-10-1954.
Hội Linh Sơn Phật Học Nghiên Cứu, 30-11-1955.
* Có tính cách địa phương: chiếm đại đa số.
Association pour le Culte du Maréchal Lê Văn Duyệt, 16- 10-14, đổi tên là Hội Thượng Công Quý Te.
Association de la Pagode Hòa Mỹ Tự, 23-07-1927.
Hội Chùa Nghĩa Thuận.
Hội Khánh Hòa Đình, 05-06-1931.
Association de la Pagode Phong Phú, 04-07-1938
Association Culturelle Phú Trung, 27-03-1938, ở Phú Nhuận, thuộc tỉnh Gia Đinh xưa.
Association Tân Hiệp Nam Nữ Pagode Cô Hồn, 03-05-1940.
Association Pagode Khánh Long Đình à Vĩnh Hội, 11-03- 1941.
Association de la Pagode Thái Hưng, 11-02-1942
Hội Tế Tự Thái Hòa Nam Kỳ Nghĩa Địa, 09-10-1942 V.v…
c. Hội lỉnh tinh: gồm những hội viên cùng sở thích hoặc có thiện chí thực hiện các việc tốt đẹp giúp xã hội miền Nam.
* Có tính cách toàn miền Nam:
Association Từ Tâm Hội, ?, đã giải tán trước 1963.
Hội Đức Trí Thể Dục, ?.
Hội Khuyến Học Nam Phần, 12-02-49.
Nhân Nghĩa Hội, ?.
* Có tính cách địa phương:
Société des Oeuvres Charitables, ở Định Tường.
Société Philharmonique Soctrang, 23-09-1949.
Association Sa Giang Nhạc Đoàn, 25-10-1950, ở Sa Đéc
Ban Âm Nhạc cổ Điển Sa Giang, 26-10-1954, ở Sa Đéc đã giải tán trước 1963 (?).
Ngoài ra từ 1952 ở mỗi tỉnh hay mỗi trường có phong trào lập hội phụ huynh học sinh nhưng chỉ có một số cỏ nghị định hẳn hoi còn đa sổ hoạt động bất hợp pháp. Chúng tôi có thể kể một số hội phụ huynh học sinh có xin phép hoạt động như:
Hội Phụ huynh học sinh Gò Công, 17-12-1952.
– Định Tường, 18-3-1953.
Trà Vinh, 16-4-1953.
Rạch Giá, 26-5-1953.
Sóc Trăng, 28-12-1953, giải tán trước 1970.
Huỳnh Khương Ninh, 16-12-1954.
Trường Trung học Gia Long, 18-3-1955.
Trường Petrus Ký, 7-5-1956.
Sau 1975 tất cả hội đoàn kể trên đều được giải tán và một số rất ít được thành lập trở lại với tên khác.
2. Khao vọng: khao có nghĩa là dọn tiệc ăn uống đãi đằng trong dịp vui mừng (ngoại trừ hôn nhân); còn vọng nghĩa là nộp tiền hay lễ vật cho làng để hưởng ngôi thứ.
Theo phong tục miền Nam, chúng ta nhận thấy trên thực tế có khao chứ không có vọng vì miền Nam không có lệ mua chức sắc
ngôi thứ (bởi bản tính chất phác, thích sống an nhàn, có chức thêm nặng lo theo câu “có chức như c… chó”) mà dù có mua cũng chỉ là mua lén mua qua cửa sau nghĩa là lo lót kẻ có quyền thế để được ban chức huyện, tổng, v.v…, chứ không có vấn đề mua bán chức sắc công khai như ở miền Bắc nên không có chuyện nộp tiền vọng.
Khao vọng đối với miền Nam thường được đồng bào ở đây gọi là ăn mừng.
a. Lý do: người miền Nam thường ăn mừng vào những dịp:
Thi đậu.
Được bằng sắc, huy chương.
Sống tới 60, 70, 80,90, v.v…, tuổi.
Mới mua hay mới cất nhà xong.
Nhậm chức.
Tạ ơn Trời Phật phù hộ hết bệnh hay tai qua nạn khỏi.

Kho thóc Nghĩa sương

Trước 1945 các nghề lao động (như phu khuân vác, phu xe, thợ mộc, thợ hồ, v.v…) và các ngành tiểu thủ công nghệ (như đan chiếu, làm rổ rá, may thêu, kim hoàn, làm tranh sơn mài, làm chén đĩa, v.v…) rất hiếm được tổ chức thành nghiệp đoàn hay hội ái hữu tương tế một phần vì lý do chính trị (thực dân pháp không muốn dân chúng tập hợp thành lực lượng) nhưng phần lớn chắc hẳn là do bản tính chung của người Việt Nam nhất là người miền Nam kém óc hội đoàn.
a. Nghĩa sương: là một kho chứa thóc dân thôn đề phòng khi mất mùa đói kém thì đem thóc đó mà chẩn cấp cho những người nghèo. Nghĩa sương là một danh từ và  một thực thể ít phổ biến ở miền Nam dù ngay dưới thời chúa Nguyễn coi sóc.
Thật vậy đời Tự Đức thứ mười ba triều đình chẩn cho các thôn xã mỗi làng đặt một nghĩa sương chắc chắn lúc đó miền Nam cũng chịu quy chế chung với hai miền Trung Bắc. Nhưng phép vua thua lệ làng đó là nguyên tắc còn thi hành thực sự hay không còn tùy địa phương. Cho nên với đất đai màu mỡ với lúa chín vàng đồng với cá lội đầy sông hầu hết người miền Nam lơ là với việc lập kho thóc nghĩa sương.
Từ lúc pháp cai trị kho thóc nghĩa sương coi như mất hẳn lâu lâu tỉnh quận nào gặp thiên tai hỏa hoạn thì các cấp chỉ huy địa phương hoặc các nhà hảo tâm đứng lên vận động quyên góp cứu trợ gọi là chẩn tế hoặc thỉnh thoảng có tỉnh lập hội chẩn tế đôi ba năm rồi cũng giải tán thí dụ như:
b. Hụi hè = hụi hò:
* phân loại: gồm 4 loại căn cứ theo thời gian.
Hụi ngày: phổ thông ở phố chợ; các con buôn và dân lao động có đồng ra đồng vô hằng ngày ưa chơi. Loại hụi này, so với T hụi khác, kêu lời khá cao; ai cỏ tiền nuôi chót sẽ lời nhiều; khui hụi thường vào lúc 12 giờ trưa.
Hụi tuần: cũng giống như hụi ngày. Thời gian khui hụi thường là 12 giờ trưa chủ nhật hàng tuần.
Hụi kỳ: mỗi tháng khui 2 kỳ, thường vào ngày 1 và 15. Loại này kêu lời ở mức ừung bình.
Hụi tháng: giới công tư chức và quân nhân hoặc giới thương gia thích chơi; thuở xưa khui hụi vào 12 trưa ngày 1 dương lịch; hiện nay thay đổi tùy giao hẹn.
Nói chưng, hụi ngày lời nhiều, nhưng cũng tùy nơi, tùy giói chơi, có khi hụi tháng lời cũng rất cao.
* Luật chơi hụi: thực ra chơi hụi không có luật lệ hợp pháp mà chỉ là những giao ước giao kèo phổ thông khiến ai quen chơi hụi biết những điều căn bản như sau:
Huê hồng — hoa hồng cho chủ hụi: có 2 cách:
Một là mượn thảo (hụi tháng ưa áp dụng) nghĩa là tháng đầu tiên các hụi viên đóng nguyên số tiền (Thí dụ: Hụi 5.000 đồng thì đóng 5.000 đồng) cho chủ hụi mượn, qua tháng thứ nhì thì mới bắt đầu bỏ thăm tranh hốt, kể từ tháng thứ nhì chủ hụi phải đóng trả tiền mượn thảo (đóng nguyên số tiền mượn mỗi người, kể như đóng hụi chết) cho đến khi mãn hụi.
Hai là lấy huê hồng hay đầu thảo nghĩa là khi hốt hụi, hụi viên đền công tổ chức cho chủ hụi một so tiền quy định; tiền huê hồng phổ thông là 50% (Thí dụ: Hụi 5.000 đồng thì cho 2.500 đồng).
Gởi thăm và giờ khui hụi: “trước hay là đúng ngày khui hụi, hụi viên vắng mặt có quyền gởi thăm kêu lời cho chủ hụi, đặng cỏ khui hụi. Thăm phải được niêm phong kỹ lại; và chủ hui thăm ấy trước mặt những hụi viên đến dự cuộc khui hụi”’1 < Ịp “giờ khui hụi chù hụi có quyền mở thăm theo lệ; hụi viên vắn và không gởi thăm, hoặc đến trễ giờ thì hụi viên ấy phải chịu g – ị không muốn dự cuộc kêu lời lần đó”12.
Người được hốt: ai bỏ thăm với sổ tiền lời cao nhất sẽ được hốt hụi. Gặp trường hợp trùng thăm (nghĩa là giá tiền kêu lời băng nhau) thì người hốt sẽ là người:
Được người kia nhường sau khi thương lượng.
Bỏ thăm trước người kia (tùy nơi, nhiều địa phương không đồng ý nguyên tắc này).
Được thăm hốt sau khi bắt thăm trước mặt mọi người trong lần bỏ thăm lại lần thứ nhì.
Giở giao tiền: nguyên tắc phổ thông là 2 giờ sau; nhưng trên thực tế, tùy nơi, tùy hụi mới hay cũ, tùy chủ hụi sốt sắng hay chểnh mảng.
Ngưng đóng: đó là trường hợp hụi viên nào “không có điều đình với chủ hụi trước mà ngưng đóng một kỳ hụi thì 24 giờ sau khi khui hụi, phải chịu là ngừng đóng luôn và chủ hụi có quyên thi hành phận sự của minh đối với hụi viên” .
Hụi hốt rồi: phải đóng nguyên, hết ăn lời kể từ kỳ kế bỏ hốt cho đến khi hụi mãn và “xin đóng một ngày trước khi khui hụi”1
Trách nhiệm chủ hụi: ngoài việc lo đi tổ chức và thâu góp, giao bạc, chủ hụi còn phải “chịu đền số vốn cho hụi viên hốt hụi, khi có hụi viên nào đã mượn số vốn rồi mà không đóng trả”15.
Gặp trường hợp chủ hụi qua đời hay vắng mặt bất khả kháng (như bị ờ tù, băt đi lính, v.v…) thì “xin gia quyến chồng con hoặc vợ con phải lãnh trách nhiệm khui hụi”16.
Đó là nguyên tắc, giao kèo chơi hụi theo tổng quát nhưng trên thực tế nhiều nơi có sự thay đổi, chẳng hạn chủ hụi qua đời thì cỏ
hụi viên đã hốt dám ù lì nghỉ đóng và các hụi viên chưa hốt cũng