Lưu trữ hàng tháng: Tháng Mười Một 2014

Các thủ tục của Lễ Cưới và Lễ Từ Đường

Cùng lúc nhà gái tiếp nhận lễ vật của nhà trai và lựa chọn một số ít đặt lên bàn thờ cúng Gia tiên, sau đó khấn: kính cáo việc gả con gái (trưởng hay thứ nữ) tên là……..cho con trai (trưởng hay thứ tên là….) của Ông,

Bà…….. ở….. nay nhận lễ Hỏi, xin Gia tiên chứng giám.

Sau đó, vị chủ hôn phía nhà trai long trọng đứng lên tuyên bố: “ông Bà…. đã chấp nhận hứa hôn, bằng lòng gả Cô…. cho Cậu…. con của ông, Bà…….. Đôi bên đã chọn ngày lành tháng tốt, hôm nay cử hành lễ Đính hôn trước sự có mặt của hai họ”.

Tiếp theo, Ông, Bà bên nhà gái tuyên bố: “Vợ chồng tôi vui lòng chấp nhận lời hứa hôn.”

Nghe xong, ông chủ hôn mở quả cháp đựng cặp nhẫn đính hôn nhò Bà sui trai trao nhẫn cho cô dâu, và Ông sui gái đeo nhẫn cho chú rể.

Sau phần nghi lễ, nhà gái tuỳ đỉều kiện mà thết đãi tiệc trà hay tiệc rượu.

Các lễ vật, ăn hỏi được nhà gái dành lại cho nhà trai một phần, gọi là “lại quả”, để đem về.

  1. Lễ Cưới

Sau khi gia đình nhà trai và gia đình nhà gái đã thảo luận, về nghi thức đám cưới, nhà trai chọn ngày, giờ tốt để định ngày cưới vói nhà gái. Nhà gái đã đồng ý thì hai bên cùng nhau xây dựng chương trình Hôn lễ như: Số người tham dự, địa điểm thành hôn, nơi đón rước dâu… và các nghi thức cần thiết khác.

Trước ngày cưới, nhà trai, nhà gái đều sắm lễ kính cáo từ đường (hay bàn thò Gia tiên), lễ Tạ ơn cha mẹ và lễ Mệnh tiêu.

  1. Lễ Từ đường:

Làm trước lễ cưới 2 – 3 ngày.

Lễ vật: trầu, cau, rượu và cỗ mặn tuỳ hoàn cảnh. Đây là lễ vật nhà trai, nhà gái đều nên có.

Nội dung khấn: Gia trưởng nhà trai cúng lạy Tổ tiên, kính cáo việc cưới vợ (tên cô con dâu………… con Ông, Bà…. ) cho con trai (tên là…….. ), và định ngày….. tháng…… năm… làm lễ cưới, đón dâu, xin Gia tiên chứng giám và gia phúc cô dâu chú rể. Sau khi Gia trưởng (Bô” hoặc Mẹ) khấn xong, người con trai (chú Rể) làm lễ 4 lạy 3 vái.

Gia trưởng (Bô”, hoặc Mẹ cô dâu) cũng cúng lạy Tổ tiên, kính cáo việc cho con gái (tên là…. về nhà chồng, tên là…. con Ong Bà…….. , vào ngày… tháng……… năm…..). xin Gia tiên chứng giám và ban phúc.

Người con gái (cô dâu) đứng cạnh cũng làm lễ 4 lạy 3 vái.

  1. Lễ Tạ ơn cha mẹ

Lễ này làm trước lễ cưới một ngày.Tại nhà trai, người con trai sắm một khay trầu rượu đặt lên bàn, mời cha mẹ cùng ngồi lên giường hay ghế cao, rót hai ly rượu đặt vào khay dâng lên cha mẹ, rồi vòng tay mà ngỏ lời cảm tạ ân đức của cha mẹ, đại để thưa rằng:

Lễ Giạm – Lễ hỏi

Trên đây là 6 lễ chính, ngoài ra còn nhiều lễ phụ như: cúng tợ hồng, lễ hợp cẩn hay động phòng, lễ kiến miếu, lễ nhị hỷ, lễ tứ hỷ… sở dĩ cổ nhân đặt ra nhiều lễ như vậy, muốn nói việc kết hôn rất long trọng, không tuỳ tiện, song ngày nay, lễ tục hôn nhân này không mấy ai theo, mà chỉ làm những bước sau đây:

  1. Lễ Giạm

Giạm là ướm hỏi để xin cưới làm vợ: khi người con trai đã ưng kén người con gái làm bạn đời và được cha mẹ ưng thuận, thì nhò người bà con hay người quen thân làm môi giới đến thăm nhà gái và ngỏ ý muôn làm thông gia, đồng thời thử xem nhà gái có ưng thuận hay không.

Người môi giói đến nhà gái một mình hoặc đi cùng với vài người thân, tất cả ăn mặc chỉnh tề, song không mang lễ vật gì cả.

  1. Lễ Hỏi

Sau khi được gia đình nhà gái hứa hôn thì nhà trai đến thăm nhà gái, cùng nhau thảo luận và chọn ngày giò làm lễ Hỏi, đây cũng gọi là lễ Đính Hôn, tương đương với lê nạp trưng hay nạp lễ cũ. Trong buổi gặp này, một chương trình hành lễ cần vạch ra để mọi nghi thức tiến hành theo sự phân công của từng phía.

Bên trãi gồm có: Ông, bà chủ hôn, tức là người sẽ đứng ra làm hôn lễ, cha, mẹ chú rể, chú rể và phụ rể (nếu có). Kèm theo là những người thân thích, bạn bè và những người giúp việc mang lễ vật.

Lễ ăn hỏi thường có: một khay trầu rượu phủ khăn đỏ, một cặp quả hộp (một cái đựng đĩa trầu cau, một cái đựng nhẫn đính hôn) phủ khăn đỏ, các mâm hoặc quả đựng bánh như: bánh cốm, bánh gai, bánh dầy, bánh chưng, chè khô…

Trước khi đem lễ vật đến nhà gái, nhà trai phải sắm một lễ: trầu cau rượu trà, để cúng gia tiên tại nhà mình, trong lúc khấn có nói:

Kính cáo Gia tiên việc hỏi vợ (tên cô gái)…………. là trưởng (hay thứ) của ông bà……… ở…… cho con trai mình là trưởng (hay thứ) tên là…. Nay làm lễ hỏi xin Gia tiên chứng giám.

Khi gần đến giờ ăn hỏi đã định trước, họ nhà trai tới nhà gái tạm đứng ngoài ngõ, cử một người đại diện cùng người bưng một khay trầu rượu phủ khăn đỏ vào nhà gái. Người đại diện đặt khay lễ vật lên bàn thờ, mở khăn phủ và nỏi trang trọng: “Giờ lành sắp đến, họ trai đã tới và xin vào làm lễ”.

Sau đó, nhà gái liền cử một người đứng tuổi cùng với đại diện nhà trai, đi ra ngõ mời, rước nhà trai vào nhà.

Vào nhà, đôi bên chào hỏi, giới thiệu nhau xong, người đại diện nhà gái mời hai họ an toạ, uống trà.

Bốn lễ dân gian – Dựng vợ gả chồng

Như vậy, hạnh phúc của mỗi người do chính mình tạo nên và do chính sự nhận thức đúng về bản thân mình mà phát huy tiềm năng sẵn có, điều mà Lão Tử, nhà tư tưởng vĩ đại Trung Hoa cổ đại nói: “Tri nhân giả trí, tự tri giả minh” (Hiểu người là bậc trí, còn tự hiểu mình mối là sáng). Cuốn sách mà bạn đọc đang có trên tay là những thông tin mang tính chất tài liệu tham khảo cho mọi người. Bùi Biên Hoà VIỆN THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI Bốn LỄ DÂN GIAN VIỆT NAM Dựng vợ gả chồng là vấn đề quan trọng bậc nhất đối với người phương Đông, nên sách xưa có câu; “Hôn nhân vi vạn hoá chi thuỷ (Hôn nhân là đầu mối cửa muôn sự sinh hoá). Người phương Đông coi hôn nhân là Đạo: Đạo vợ chồng. Đạo vợ chồng có tầm quan trọng vào loại bậc nhất trong cuộc sống con ngưòi như vậy, nên cổ nhân đã đặt ra nghi lễ hôn nhân với nghi tiết quan trọng. Chữ Hôn (chữ Hán) nguyên có nghĩa là tối, bởi vì người xưa thương làm lễ cưới gả vào buổi tối nên mới gọi là lễ hôn. Lễ Hôn còn có ý nghĩa lớn nữa là chỉ ra sự hoà hợp tình thân yêu giữa hai họ nhà trai và nhà gái, trên để nối dõi tông đường, dưới là lưu giữ huyết thống để truyền lại nếp gia phong của tổ tiên cho mai sau. Thòi xưa, lễ hôn rất phức tạp, bao gồm các bước sau đây: Nạp thái: Là lễ nhà trai đem con chim Nhạn đến nhà gái để tỏ ý xác định việc chọn VỢ: dùng chim Nhạn, vì Nhạn là một loài chim có nghĩa, bay i đâu cũng có đôi mà không sánh đôi hai lần. về sau người ta dùng Ngỗng (Thiên Nga) thay cho chim Nhạn, vì Ngỗng cũng có đặc tính như chim nhạn. Vấn danh: Là lễ hỏi đến tên người con gái và tên họ bà mẹ. Sở dĩ hỏi tên họ ngưòi mẹ, bởi cổ nhân rất coi trọng sự giáo dục của bà mẹ tối cô con gái. Người xưa có câu: “Phúc đức tại Mẫu ” (Mẹ) là vậy. Qua bà Mẹ, biết được tính nết người con gái. Nạp cát: Là sắm lễ đem sang nhà gái để chứng tỏ đã xem xét so sánh đôi tuổi mà nhận thấy việc kết hôn được tốt lành. Nạp trưng: Hay nạp tệ, đem lễ vật là hàng hoá như tơ lụa hay quý vật gì đó sang nhà gái để làm chứng cho sự kết hôn. Thỉnh kỷ: Lễ xin định ngày giò làm hôn lễ, về sau có nơi gọi là ăn cưới: nhà trai mang các lễ vật cho nhà gái như đồ nữ trang, y phục cho cô dâu. Thân nghinh: Là lễ rước dâu hay đưa dâu.

Những phong tục trong Dưỡng sinh – Đạo dẫn

LỜI NÓI ĐẦU

Mỗi một dân tộc có một nền văn hoá với bản sắc riêng. Những yếu tố cơ bản cấu thành nên bản sắc của một nền văn hoá riêng đó là phong tục, tập quán và nghi lễ dân gian truyền thống. Sự lưu giữ và trường tồn phong tục tập quán trong một nền văn hoá, nói lên sức sống của dân tộc. Do vậy, nhiều nước trên thế giới, có hẳn đường lối và chính sách tạo điều kiện duy trì những phong tục, tập quán còn tồn tại cho đến hôm nay.

Việt Nam là xứ sở mở, con người nơi đây đôn hậu sống mềm dẻo, hoà nhập đa chiều. Do vậy, từ xa xưa, trào lưu văn hoá Trung Hoa cổ du nhập vào đây, đã được dung hoà vối phong hoá địa phương mà phát triển trong tư thế độc lập, tạo nên một bản sắc riêng thành Nền Văn hiến Việt Nam đầy tính nhân văn.

Nền Văn hiến Việt Nam là một hợp thể dựa trên tinh thần ‘Tam Giáo đồng nguyên”, mà trọng tâm là Đạo Nho lấy gia đình làm nền tảng xã hội, Đạo Tâm làm nguồn động lực phát triển luân thường đạo lý; Đạo Giáo làm phương tiện bình ổn cuộc sống của mỗi người, của mỗi gia đình.

Cuốn sách “Một số phong tục nghi lễ dân gian truyền thống Việt Nam có nội dung phản ánh tinh thần của hợp thể nền Văn hiến trên trong xã hội Việt Nam từ cổ xưa cho đến hôm nay. Những nghi lễ được trình bày trong cuốn sách dưới hình thức làm phát triển đạo Tâm, một yếu tô” rất cần cho sự sinh tồn bình ổn của dân tộc, một người cụ thể: như Hôn lễ, điều mà sách Trung Dung có câu: “Quân tử chi đạo tạo đoan hổ phụ phụ, cập kỳ chi dã, sát hồ thiên địa ”, nghĩa là: đạo làm người quân tử bắt đầu từ chỗ vợ chồng hoà hợp, tới khi phát triển đến tột bậc thì thành quả thể hiện khắp cùng trời đất.

Nghi lễ như tế lễ là thể hiện lòng hiếu kính với tổ tông mà cũng là cái gốc của ĐẠO NHAN hướng về cội nguồn. Nghi lễ cũng là mối liên hệ huyền bí thắt chặt tinh thần huyết khí của thế hệ hiện tại vối thế hệ cha ông trong quá khứ, để trong tương lai hun đúc thành sức mạnh vô địch làm tăng sức sống vĩnh cửu của một dân tộc.

Những phong tục trong Dưỡng sinh – Đạo dẫn, trong các phép ưu sinh và cải tạo không gian nơi ở là những phương pháp cụ thể mà tư tưởng ĐẠO GIA cũng quy về sự hoàn thiện cái NHÂN mà mỗi người tự mình hành nghiệm.

Cái Nhân, tức cuộc sống của mỗi người là một vấn đề rất lớn. Sự sưống khổ, hạnh phúc, vui buồn là đỉều không thể ai biết trước được. Theo cổ nhân, cải mà con người cần làm là phải hành động và sống sao cho có nhân có đức, thì sẽ vượt quạ mọi khó khăn, tạo lập hạnh phúc riêng cho mình, điều mà người xưa nói: “Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân” (Trời Đạt không phụ người nhân đức) là vậy.

Quần xưa (khoảng trước và đầu thế kỷ XX)

* Ảo bành tồ (— paletot): có 3 túi (một túi trên, nhỏ, ở phía tay trái; hai túi lớn phía dưới) có nắp. Áo bành tô hơi giống áo vét bây giờ nhưng có xẻ nách, bâu cổ tối thiểu 0m04. Loại áo này luôn luôn may bằng vải dầy cứng.
* Ảo u que (= veston ouvert): tương tự áo vét bâu cổ áo bự sự.
* Áo xí lê (= gilet): có thể bằng loại vải mỏng hay dầy tùy ý. Áo này hoi giống áo lá ở chỗ không có tay, chừa nách trống ngắn ngủn và dành riêng cho nam phái. Ở vạt trước áo xí lê có 3 túi ngoài, không nắp và một túi trong. Ở vạt sau có 2 sợi dây gài.
* Áo mây dô (= maillot): khi xưa đàn ông, trai trẻ thị thành mặc áo này để chơi thể thao (như đá banh, đánh quần vợt). Từ 1954 đến nay áo mây dô được mặc phổ thông ở thị thành (lần lần lan đến thôn quê) dù có chơi thể thao hay không.
Còn áo tắm của phái yếu cũng được người miền Nam gọi là áo mây dô nhưng trước năm 1945 hiếm phụ nữ dám mặc áo mây dô để bơi lội (chỉ trừ dân theo Tây hay gái không đàng hoàng). Trước 1954 hiếm thấy phái yếu miền Nam mặc áo tắm kiểu 2 mảnh (= bikini) như sau 1954.
* Áo bờ lu dông (= blouson): chỉ bắt đầu xuất hiện ở miền Nam nhiều từ 1954. Loại áo này không được phổ thông vì ảnh hưởng khí hậu nóng nực.
* Áo gió: chỉ xuất hiện sau 1954, cùng như áo bở lu dông nhưng mỏng hơn nhiều nhưng vẫn không được phổ thông trước 1963. Càng ngày cảng nhiều người lái xe Honda, Suzuki, v.v. nên áo gió càng được dùng nhiêu vào sáng sớm hay đêm khuya.
* Áo mưa: trước 1945, người ở thành phố mới thường dùng áo mưa làm bằng nhựa hóa học; ở nhả quê, mọi người dừng dù, nón lá cộng thêm đệm khi cần đi trong mưa.
Sau 1954, áo mưa plastic được phổ biến xuống tận nông thôn.
2. Quần: quần xưa (khoảng trước và đầu thế kỷ XX) khác với quần nay ở các điểm chính như sau.
Đảy lả nem: khác với bây giở toàn may quán đáy giữa. Quan lá nem là quần may s đường chỉ cộng thêm 2 đường nồi mông dưới là 7; nói một cách khác, quẩn iá nem gốm 7 mánh, còn quẩn đáy giữa chỉ cỏ 2 mảnh ráp lại thảnh quẩn.
Lai cặp: nghĩa lả lai quằn được may cập thêm bên trong một miếng vài. Phái yểu may tai cặp độ OmOl S; phải mạnh được đề cập đến OmOS.
Lưng vận, rộng, cặp: không xài đây lung rút hay đầy tưng thun mà gài một cục trước bụng; muốn gài chật thỉ quần phải may rộng lưng vả lưng quần được may cập thêm chứ không may lung liền như bây giờ; miếng lung cặp bề ngang độ 0m04~0n)06.
Óng rộng đều: nghĩa là ống quẩn từ háng xuống mắt cá cổ bẻ rộng bằng nhau  không có chỗ bẻ vô như bảy giở. Thuở trước 1945 ống quần trung binh cỏ bề ngang tử 0m25-0m30, nghĩa lả rộng phùng phình.

Trang phục nữ miền Nam trước 1939

Trước và đầu thể kỷ XX, phái yếu miền Nam đi cấy phải mặc áo dài cho kín đáo. Khi cấy, vạt trước áo dài được xắn lên, vắt vòng lưng sau ra trước cho gọn gàng.
Áo dài xưa gồm tứ thân (4 miếng may ghép lại thành áo), đơm nút khuy chứ không kết nút bóp hoặc nút móc như sau 194S. Khoảng trước năm 1918, vạt áo dài xưa lại ngắn (giữa ổng chân nhưng vần dài hơn kiểu áo dài hippi giữa ỉ 963-1970); đàn ông mặc vạt dải hơn đàn bà độ 0m03, bâu cổ ngán 0m02.
Áo dài xưa còn có loại áo dài vá quàng. Sự kiện vá quàng cỏ hai lý do: một là muốn kiểu cách (thỉ chỉ may ráp vải khác ở nửa ngực bên trái tới thắt lung vạt trước); hai là vì túng thiểu (thì có thể đổi ráp nửa vạt từ thắt lưng trở xuống hay từ thắt lưng trở lên hoặc đổi ráp hai tay áo từ trên cùi chỏ xuống cổ tay…). Bởi vậy, ca dao miền Nam có thiếu gì câu ám chỉ chiếc áo vá quàng. Nào là:
Ảo vá vai vợ ai không biết,
Ảo vá quàng chỉ quyết vợ lôi.
Thương em thuở áo mới may,
Bây giờ ảo đã rách vai và quàng.
Từ sau năm 1934 kiểu áo dài Lemur (do họa sĩ Cát Tường ở Hà Nội vẽ) đã ảnh hưởng khá nhiều đến y phục phụ nữ miền Nam. Phái yểu miền Nam vừa mặc áo dài Lemur vừa chế biển thêm kiểu áo mới: áo tay phùng (= phồng) rất phổ biến ở Sài Gòn và các thành phố lớn miền Nam trước 1950 là dấu ấn thời trang lúc bấy giờ. Bắt chước mode của các nữ nghệ sĩ cải lương nổi danh thời đó như Năm Phỉ, Phùng Há, nhiều phụ nữ mặc áo dài ngắn gần đến đầu gối.
Khoảng năm 1956-1957 lại thêm kiểu áo cổ hở, hở chút nơi cổ (không cỏ bâu cổ như áo dài xưa và áo dài thường đời mới) và bờ vai; dân chúng thường gọi là “áo bà Nhu” vì bà Ngô Đình Nhu là người đầu tiên mặc kiểu áo này.
Óng Nguyễn Được, giám đốc Trung tâm Tiểu Công Nghệ cùng với họa sĩ Lê Văn Đệ, giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, là người lăng xê kiểu áo hở cổ này trong lần trình bày thời trang được tổ chức tại Trung tâm ở đường Tự Do Cư (tức Đồng Khởi bây giờ). Tạp chí Sáng Dội Miền Nam do kiến trúc sư Vũ Đức Diên chủ biên có viết bài về áo dải Việt Nam trong đó cỏ nhiều hình ảnh về kiểu áo dải hở cổ nảy. Trong khoảng thời gian 1956-1963 kiểu áo dải này bị chổng đổi vi lý do chính trị nhiều hơn nhưng sau ỉ 963 nó dần dần được phổ biến ở Sài Gòn và thành phố lớn.
Ngoài ra, khoảng năm 1958-1968, áo dài mốt (= mode) có vạt dài đến gót, bâu cổ cao từ 0m05-0m07. Từ 1968-1975, bâu cổ ảo dài hạ thấp dần chỉ còn độ 0m02.
Riêng ở Sài Gòn và các tinh lỵ từ 1954-1975, chiếc áo dài bị thay đổi nhiều theo thời trang. Nào kiểu hở ngực của bà cổ vấn Ngô Đình Nhu, kiểu Raglan, Danaline, v.v…
Tóm lại, áo bà ba, áo túi, áo lá, áo dài là 4 loại áo chính cổng của người miền Nam đã có từ xa xưa nhưng qua thế kỷ XX, người miền Nam, nhất là dân Sài Gòn và thành phố, bắt đầu mặc thêm các loại áo Tây phương như sau:
* Ảo thun: thay thế chiếc áo lá, thường được nam phái mặc trong chiếc áo sơmi, có 3 loại. Loại hở nách không tay được mặc nhiều nhất vì khí hậu nóng nực của miền Nam. Loại tay ngắn thường được dân thành phố đi làm công tư sở thông dụng. Loại tay dài ít phổ biến vì ảnh hưởng khí hậu.
* Ảo lạnh: hồi xưa, tròi có lạnh lẽo lắm thì ông già bà cả mặc hai ba cái áo hoặc trùm mền cho đỡ lạnh, chứ chưa biết xài áo lạnh gì cả.
Trước 1945 đàn ông miền Nam hạng sang ít mặc áo lạnh loại đan len hay chỉ sợi mà thích mặc áo bành tô bằng nỉ, xẹt, ga bạt đinh, xẹt kinh, xăng tung.
* Áo sơmi (= chemise): là loại áo phổ thông cho nam giới theo mới. Trước 1945 vạt trước của áo sơmi ngắn hơn vạt sau dài thượt và chỉ có 2 kiểu: tay măng xết (= manchette) tay dài và tay ngắn. Từ 1945 về sau, áo sơmi được may nhiều kiểu. Tuy nhiên sau 1995 kiểu áo tay măng xết càng ngày càng ít dần vi ảnh hưởng mới của áo may sẵn để bán.
* Ảo kiểu: đủ loại vải, đủ màu sắc, trang trí đủ kiểu, thay đổi tùy theo thời trang mỗi năm, mỗi vài năm.
Trước 1939 phái yếu trưởng giả hay giới ăn chơi cũng đã biết mặc áo kiểu Tây phương. Từ 1954, áo kiểu Âu Mỹ càng ngày càng phổ thông trong mọi giới của phái yếu. Kể từ 1995 ở các thành phổ, áo kiểu được coi như là chiếc áo thường nhật của giới sinh viên, nữ nhân viên văn phòng.
* Áo bỉ ra ma (= pyjama): nói là áo nhưng thật ra là một bộ gồm áo và quần.
Riêng cái áo bi ra ma khác với áo bà ba ở điểm áo này không có xẻ nách, có bâu cổ áo rất lớn nằm úp sát theo quanh cổ và cổ tay được may xéo kiểu cách. Áo này khoảng 1954-1963 ưa có viền màu khác; sau đó áo thường không viền màu.
Bộ áo bi ra ma đúng lề lối là bộ áo để mặc ngủ, nhưng nhiều người miền Nam vẫn quên và có thói quen mặc áo này để tiếp khách không quan trọng (vì vừa làm biếng thay đồ khác vừa không muốn mất thời giờ), thậm chí có người dám mặc nguyên bộ bi ra ma ra phố chợ.

Trang phục từ sau 1975 đến 1995 ở miền Nam

nhưng mắm nêm và mắm nục không được họ ưa thích bàng người miền Trung.
Dân miền Nam không hảo các loại xôi đậu đen, đậu phộng của người miền Bắc, trong khi đó họ ăn nhiều loại xôi địa phương và đặc biệt gói xôi của người miền Nam bao giờ cũng có sự hiện diện của dừa, xác dừa hay nước cốt dừa cũng như gói xôi của họ có thêm nhiều món ăn kèm hơn gói xôi của người miền Bắc và Trung.
Chè, bánh, trái miền Nam nhiều thứ hơn hai miền kia.
Người miền Nam hảo dừa nên có rất nhiều món ăn có nêm, trộn hoặc chế nước dừa.
Trong Nam, dân chúng uống rượu nhiều hơn ngoài Trung và Bắc.
Dân Trung hút thuốc lá (= thuốc vấn bằng lá thuốc nguyên chất) hơn người miền Nam. Trái lại, người miền Nam tiêu thụ nhiều thuốc điếu hơn người Trung và Bắc.
Người miền Nam ưa ăn trầu hơn dân hai miền kia.
Tắt một lời, về món ăn và thức uống, nhờ kinh tế khá giả và công ăn việc làm dễ dàng nên người miền Nam tương đối hỉ hả và có nhiều dịp được khoái khẩu hơn người miền Bắc và người miền Trung ăn uống khắc khổ.
CHÚ THÍCH
1. Nguyễn Văn Ba, trong bài “Muối Bạc Liêu nặng tình biển cả”, đăng trong tuyển tập Trông vời quê cũ (Miền Nam), tr 130, Làng Văn, Toronto, Gia Nã Đại, 1996.
2. Lê Văn Lân, Bút khảo về ăn, Làng Văn, Toronto, Gia Nã Đại, 1993, tr 59.
3. Xuân Tước, trong bài “Món ngon miền Nam”, đăng trong tuyển tập Trông
‘vời quê cũ (Miền Nam), sđd, tr 148.
4. Lê Văn Lân, sđd, tr 39.
5. Xuân Tước, sđd, ừ. 149.
6. Xđt Món lạ miền Nam của Vũ Bằng, sđd.
7. Tô Kiều Phương, bài “Rừng Sác, cửa ngõ của hòn ngọc Viễn Đông” đăng trong Trông vờ/ quê cũ (Miền Nam), sđd, tr 99.
8. Nghê Văn Lương, Cà Mau xưa và An Xuyên nay, sđd, tr 96.
9. Vũ Nam, bài “Quê hương nước ngọt” trong Trông vời quê cũ (Miền Nam), sđd, tr 66.
PHỤC sức
“Ăn Nam mặc Bắc” hay “Nam ăn Bắc mặc”, lời tục thường nói cho ta thấy đồng bào miền Nam lưu ý vấn đề thực phẩm, còn người Bắc chuyên chú tấm áo nếp quần. Đó cũng là lý do chúng tôi lược khảo chương “Phục sức” này của người miền Nam ngắn gọn so với chương “Thực phẩm” trước đây.
I. Y PHỤC
lè Áo: trước thế kỷ XX, áo xưa khác với bây giờ ở điểm áo xưa có sóng lưng tức vạt sau gồm 2 mảnh ráp nối ở giữa xương sống vì ông bà miền Nam chúng ta cho rằng áo không có sóng lưng là áo vong (nghĩa là: áo của những người đã chết; kẻ còn sống không nên mặc áo vong vừa là điềm xấu, vừa có vẻ phạm thượng người khuất mặt!).
Khoảng trước 1945 có nhiều ông già bà cả không chịu mặc áo không có sóng lưng.
Áo xưa không xài nút bóp hoặc bằng nhựa như bây giờ. Thuở xưa nút áo làm bằng hổ phách mã não hay đồng vàng xi; dân sang ưa nút vàng kiểu chữ phước, chữ hạnh, chữ lộc, chữ thọ.
Trước 1945 cũng không có kiểu nút kéo (= fermeture) và không nhấn “bên” (= pince) tức nhấn eo như sau đó.
a. Ảo bà ba: còn được gọi là áo cổ giữa, là chiếc áo quen thuộc nhất của người miền Nam từ quê ra thành phố.
Áo bà ba xưa (trước và đầu thế kỷ XX) luôn luôn không cỏ túi. Lần lần lớp người sau bày may thêm 2 túi lớn phía dưới vạt áo trước để tiện đựng đồ lặt vặt.
Áo bà ba xưa có 2 đinh (= miếng vải may cặp hông) ở vạt trước dài tới nách, 2 đinh vạt sau ngắn và tay dài khuất cổ tay.
Áo bà ba xưa cũng như nay đều phải có xẻ nách dài (khoảng 0m20-0m22) nhưng ảo xưa trước 1945 xẻ nách dài hơn thời nay.
Ngoài ra có loại áo bà ba có cổ và tay có gài nút dành cho đàn ông mặc kèm với áo dài. Tuy nhiên loại áo bà ba đặc biệt này không được phổ biến bằng áo bà ba thường.
Chiếc áo bà ba rất tiện dụng đối với người miền Nam trước 1945: Đàn ông ra đồng hay vườn làm lụng nếu không ở trần thì mặc áo bà ba; phái nữ đi xóm hay chợ búa cũng ưa mặc áo bà ba; khoảng 1945-1975, đàn bà ở mộng vườn khi đi làm lụng ngoài đồng trong vườn cũng thường mặc loại áo này. Tắt một lời, trước 1945 mỗi ngày tối thiểu người miền Nam đều có mặc chiếc áo bà ba một lần ngoại trừ trường hợp đặc biệt hoặc thiểu số người sống theo Tây phương (thì thường mặc áo sơmi).
Kể từ sau 1975, nhất là sau 1995, chiếc áo bà ba bị mất địa vị ưu thế, dân làm ruộng rẫy thường mặc nó hom; đàn ông làm vườn hay mặc áo sơmi ngắn tay, đàn bà có khi mặc áo kiểu này kiểu nọ; ông già bà cả ở phố chợ thỉnh thoảng mới mặc áo bà ba. Áo kiểu, áo sơmi, áo thun có in hình hay chữ thay thế áo bà ba khắp miền Nam.
b. Ảo túi: là chiếc áo dành cho phái yếu mặc trong nhà hoặc mặc kèm theo phía trong áo bà ba khi ra đường hoặc phố chợ.
Áo túi bao giờ cũng ngắn hơn áo bà ba độ 0m03, có 2 túi thật to (to hơn túi áo bà ba) ở phía dưới vạt trước, tay ngắn, không xẻ nách.
Ảo túi lở thì tay dải (nhưng ngán hơn tay áo bà ba) và cũng có xẻ nách (nhưng củng ngắn hơn).
Kể từ sau 1954, áo túi càng ngày càng ít được mặc và Sau 1975 hiểm thấy ai mặc.

a. Ao lả: là chiếc áo dành cho nam phái, mặc kèm với áo bà ba. Áo lả ngắn ngủn, không có tay, chừa nách trống, có 2 túi dưới vạt trước.
Cũng gần như áo túi, sau 1954 áo lá không còn được nam phái ưa chuộng; áo thun lần lần thay thế áo lá bắt đầu từ thành phổ, lần lần đến thôn quê.
Áo dài: được mặc khi cỏ việc quan, hôn, tang, tế hoặc trong ba ngày Tết Nguyên Đán.

Người miền Nam ăn nhiều loại mắm hơn Trung và Bắc

Nước sông: trước 1954 (bấy giờ sông ít bị ô nhiễm), một ít dân quê quá nghèo, uống hết nước mưa chứa ữong lu thì lấy nước sông, lóng cặn rồi uống.
Kể từ 1945 về sau, nhất là từ 1954, nhờ sự phát triển y tế, người miền Nam bắt đầu đem đun sôi nước trước khi uống nên nước lã trở thành nước chín hoặc một số uống nước lọc theo kỹ thuật khoa học.
Nước trà: trà quế và trà Tàu phổ thông nhất. Còn trà tươi chỉ có thiểu số dân miệt vườn có trồng dăm ba bụi để dùng nội trong gia đình. Nước trà được người đứng tuổi ưa thích hơn thanh niên; còn trẻ con miền Nam ít khi uống nước trà.
Nước pha: mà người miền Nam uống nhiều nhất là cà phê đen; thứ là cà phê sữa, sữa nước sôi, nước chanh, nước trái tắc, nước rau má, nước sâm (do Chệt bán), nước chùm mễ (nấu bằng gạo rang, dành cho bệnh nhân), nước sirô và các loại nước ngọt (bạc hà, limonade, crème soda, nước cam, nước cam vàng…) do hãng BGI (lớn nhất) hay hãng Phương Toàn (nho nhỏ) sản xuất (nước xá xị của hãng nhỏ này rất đặc biệt!).
Ngoài ra, người miền Nam ở phố chợ cũng thích uống nước mía (ép).
a. Rượu: gồm 2 loại, rượu ta và rượu nhập cảng.
Rượu ta mà đàn ông (đôi khi đàn bà thuộc dân chơi cũng nhậu luôn!) miền Nam nào cũng uống là rượu đế. Trước 1945, rượu đế do công ty rượu Bình Tây (do Pháp độc quyền sản xuất) được gọi là rượu máy hay rượu công ty không được dân chúng ưa thích bằng
rượu đế (còn gọi là rượu rừng vi được dân chúng lén lút, nấu lậu ờ bụi bờ, trong rừng) có mùi vị thơm dịu, ít gắt nồng như rượu máy
Trong loại rượu ta, còn có rượu nếp than màu hồng quân được dân chúng nấu dùng hay bán lẻ chút ít; loại rượu này uống ít say và dễ uống nhờ men ít và nhiều vị ngọt hơn rượu đế.
Ngoài ra, người miền Nam còn uống các loại rượu thuốc nhằm mục đích tăng cường sức khỏe, sinh lý hay trị bệnh theo tin tưởng của họ. Rượu thuốc gồm 2 loại: Rượu có nhãn hiệu (như rượu hiệu Con Bìm Bịp) và rượu không nhãn hiệu. Rượu không có nhãn hiệu là loại rượu ngâm xác rắn, rết, thuốc Bắc, thuốc Nam, v.v… Các loại rượu thuốc thường có mùi thuốc và không nồng cay như rượu đê, rất dễ uống.
Thỉnh thoảng người miền Nam, nhất là dân chúng miền Đông hay Sài Gòn và Chợ Lớn còn uống rượu dâu (từ Đà Lạt đem xuống bán), rượu Mai Quế Lộ và Ngũ Gia Bì (do người Tàu làm bán, cũng có khi nhập cảng từ Trung Hoa thời bấy giờ).
Còn các loại rượu nhập cảng trước 1954 ít được người bình dân hay ruộng rẫy nhấm nhía vì giá mắc; giới trưởng giả, công chức, quân nhân hoặc dân phố chợ thỉnh thoảng trong các tiệc tùng mới dùng các loại rượu Pháp. Rượu Pháp phổ thông nhất là các loại rượu chát nhãn hiệu Bordeaux (rượu chát trắng thường uống khi ăn cá; rượu chát đỏ thường uống khi ăn thịt, nhất là thịt bò). Kế đó là rượu Champagne là một loại rượu rất nhẹ mà đàn bà thích uống hơn đàn ông. Rượu hơi ngọt và the thì có rượu Peppermint màu xanh; thứ đến là rượu Curaqao. Rượu hơi manh và mạnh thì cỏ rượu Cognac, Martel, v.v…
1. Thuốc hút: dân thôn quê lao động ưa hút thuốc vấn (còn gọi là thuốc gùi), dân thị thành, trưởng giả thường mua thuốc điếu.
Thuốc vấn không cỏ khuôn khổ nhất định, tùy người hút, điếu thuốc được vấn sẽ dài hay ngắn, lớn hoặc nhỏ. Muốn vấn, ở phố
chợ, người ta dùng giấy quyến hoặc giấy tập ABC trong khi đó ở thôn quê dân ruộng rẫy thường dùng lá chuối hay lá chân bầu (= trăm bầu) hoặc đôi khi dùng bất cứ một loại giấy mỏng nào đó (chẳng hạn giấy lịch) để vấn thuốc hút.
Ở miền Nam, thuốc vấn Gò vấp (tỉnh Gia Định cũ) được thông dụng khắp miền Nam; thứ đến là thuốc Xiêm Mãn Hòa An ở Cao Lãnh cũng được dân miền Tây ưa hút. Thuốc điếu do 3 công ty Pháp khai thác hoặc nhập cảng và được chia làm 4 loại: thuốc nặng, thuốc vừa nặng vừa thơm, thuốc thơm và thuốc xì gà (trước 1945 chưa có loại thuốc điếu đầu lọc).
Thuốc nặng được dân lao động hay dân hút lâu (thành nghiền nặng). Thuốc nặng trước 1954 có thể kể như Bastos, Mélia, Mic…
Dân thành phố, nghiền thuốc và khá giả (mới có tiền mua) hay hút thuốc vừa nặng vừa thơm thông dụng như thuốc Lucky, Con Lạc Đà (Camel), Philip Morris, Pall Mali, v.v…
Thuốc thơm nhẹ như Nút Chuồn (= Virginia), 777, 999, Con Mèo (Craven A) thường được lớp trưởng giả, sang trọng hút chơi chứ không nghiền mấy. Thuốc thơm Captan không đầu lọc tương đối rẻ nên được các dân nghiền mua hút.
Ngoài ra, ở thành phố, thay vì hút thuốc điếu hay thuốc vấn, các ông già theo mới (bắt chước người Pháp đúng hơn!) có thể hút ống điếu (còn gọi là ống vố) hoặc đôi khi họ còn dùng đót để hút thuốc điếu.
Trong khi các ông hút thuốc, ứước 1945 hầu hết đàn bà miền Nam trên 40 ăn trầu; các bà già đi đâu cũng có bị trầu kè kè. Trước 1945 cũng có đàn ông ở nhà quê ăn trầu nhưng ít hơn đàn bà nhiều; còn đàn ông ở phố chợ hiếm khi ăn trầu.
Kết luận, về thực phẩm, miền Nam so với miền Bắc và Trun chúng ta có những ghi nhận tổng quát như sau:
Miền Nam có nhiều sản phẩm cung cấp món ăn hơn hai miền kia.
Cá đồng cung cấp nhiều món ăn cũng như dân miền Nam ưa cá đồng hơn cá biển; còn dân miền Trung thường ăn cá biển hằng ngày
Thịt rừng hơi lạ với dân miền Nam, nhất là dân miền Tây.
Dân miền Nam ít ăn cay hơn người miền Trung.
Người miền Nam ăn nhiều loại mắm hơn Trung và Bắc,

Món mặn ở miền Nam

a. Mía: gồm có mía khúc, mía ghim rất phổ thông và mía hấp do người Việt gốc Hoa làm bán ở phố chợ. Mía được trồng khắp
miền Nam; nhưng mía thuộc lưu vực sông Vàm cỏ Đông (gồm 2 tình Long An và Hậu Nghĩa cũ) trồng ngon hơn cả.
1. Món lỡ cỡ: nghĩa là món không ngọt mà cũng không măn thường được làm món ăn choi như:
Món từ chuối: gồm có chuối chưng, chuối xào dừa, chuối nấu chuối nướng (để nguyên trái hay ép và ăn với nước cốt dừa).
Món từ đậu phông: gồm có đậu phộng nấu (phổ thông hơn) đậu phộng rang (ươn, bỏ ít muối hay ngào đường).
Món từ khoai: có thể là món ăn chơi hay ăn no tùy theo ăn nhiều hay ít, gồm có các loại khoai được nấu: lang, mì, từ, mì tinh hay huỳnh tinh. Riêng khoai lang xắt mỏng, lăn bột đem chiên ăn không hay với đường cát cũng được người miền Nam ưa thích.
Món từ hạt: hạt dưa, hạt sen (gồm có hạt sen tươi hay ngọt ngào đường được gọi là mứt hạt sen), hạt bí rợ.
Món từ củ năng, củ co, v.v…
2. Món mặn
a. Món phổ thông: ba món phổ thông nhất ở miền Nam từ trẻ đến già ai cũng ưa là bún, nem, bì.
Bún: có thể ăn không với nước mắm tỏi ớt hoặc thêm rau sống; nếu bún ăn kèm với bì thì gọi là bún bì hay bì bún, thêm thịt bò xào thì gọi là bún bò xào, còn thêm thịt heo nướng lụi thi gọi là bún thịt nướng.
Nem: miền Nam nổi danh khắp nước. Nem được gói đủ cỡ; khắp noi đều làm nem, gói nem để ăn để bán nhưng nem được thích nhất được sản xuất ở Mỏ Cày (thuộc tỉnh Kiến Hòa hay Bến Tre), Bà Điểm và Thủ Đức (thuộc tỉnh Gia Định cũ).
Bì: là món ăn kèm với các món khác. Bì có thể được dùng để ăn với bún, cơm tấm, bánh mì hấp, bánh tằm. Bì cũng như nem được mọi nhà, địa phương làm nhưng không nơi nào được nổi danh.
b. Món ít phổ thông hơn :
Thịt gà xẻ phay.
Các món từ ốc: người miền Nam cũng ưa ăn ổc và có nhiều cách làm các món ốc (luộc, hấp, xào). Ốc gạo được ăn nhiều nhất; kế đó là ốc lác, ốc len, ốc bu, v.v…
c. Món đặc biệt : đó là những món ăn mang nhiều sắc thái miền Nam nhưng lại không phổ thông. Theo thứ tự abc chúng ta có thể kể:
Bò kiến: là những lát thịt bò xắt mỏng để trên hay kế bên 0 kiến vàng cho chúng bò lên và tiểu tiện làm chín tái thịt, rồi đem ăn với rau sống (gồm lạc, vừng, ngò, húng cây, quế…), bì, bánh tráng chấm mắm nêm và nhậu với rượu đế. Ở miệt Chợ Gạo (tỉnh Định Tường cũ) dân chúng thích ăn món này.
Canh năng nấu cua: ở Cà Mau, người ta ưa lấy củ năng bột nấu với cua gạch son (loại cua gạch son ở Quận Đầm Dơi ngon nhất!).
I Cháo cóc: người miền Tây ưa ăn vào mùa mưa nhất là dân chúng hai tỉnh Long An và Định Tường cũ.
Đuông chà là: ngon nhất vào tháng 11 hoặc tháng Chạp âm lịch miệt Hậu Giang ưa ăn nhất là ở Đầm Dơi, Năm Căn, Cái Keo (đều thuộc tỉnh An Xuyên cũ). Món đuông nướng ăn với nước mắm nhĩ nguyên chất (không pha giấm, chanh, ớt gì cả!) ngon khó quên.
Ngoài ra Tô Kiều Phương giới thiệu thêm: có “một loại đặc sản nữa của Rừng Sác: Đuông Chà Là. Từ mỗi ngọn chà là, người ta chỉ bắt được một con đuông trắng ngần, béo ngậy nằm giữa ruột cây. Đem ngâm đuông vào nước mắm ngon rồi mới chiên với bơ, là một món nhậu không thứ gì sánh bằng”7.
Heo rừng: cũng theo Tô Kiều Phương, thịt heo rừng ở Rừng Sác “tuyệt vời, thịt ngon hơn bất cứ heo rừng nơi khác, nhờ chúng ăn toàn đọt chà là”.
Khô lọ nồi: ở miệt Cà Mau, người ta ưa bắt lọ nồi ở cá cấm như “vàm rạch Bù Mắt, Tắt Năm Căn, Rạch Ông Đinh Miên, Bực Lở, Vàm Bồ Đề và ngã ba Tam Giang”8 về lam kir bằng cách xẻ thịt ướp ngũ vị hương. Khô lọ nồi không kém khô  Ban Mê Thuột.
Kỳ đà: người miền Nam có thể làm 2 món ngon là món kỳ đà xé phay (trộn bắp chuối và rau răm) và kỳ đà xào lăn. Miệt Cà Mau, u Minh và Đồng Tháp Mười thuở trước 1954 ưa ăn.
Năng trộn dừa: ở miệt Cà Mau, Bạc Liêu, người ta lấy củ năng bột trộn với dừa nạo và rau thơm làm một món ăn đặc biệt của dân đồng ruộng.
Rùa: dân miền Tây hay bắt rùa làm món ăn hơn dân miền Đông. Rùa được làm nhiều món, nhưng 3 món khô rùa, rùa xé phay và rùa xào lăn ai ăn cũng khoái khẩu.
I Sấu: miệt rừng hay đồng lầy Hậu Giang mới có nhiều sấu và dân chúng ở đây ưa bắt chúng để làm món ăn. Món sấu ngon nhất là sấu luộc chấm mắm nêm ăn với chuối chát và rau sống.
Trứng vích: ở Nước Ngọt (thuộc xã Long Hải) “có trứng vích (một loại rùa biển lớn). Trứng vích vừa được lấy trong đêm, mới toanh, luộc lên ăn nóng hổi”
A. THỨC UỐNG VÀ THUỐC HÚT
1. Thức uống
a. Nước: gồm nước lã, nước trà và nước pha.
Nước lã: gồm có:
Nước mưa: ở thôn quê nhà nào cũng có ít nhất đôi ba lu hay kiệu to (nhà giàu có hàng chục cái!) chứa nước mưa để uống.
Nước giếng: ngoài nước mưa, dân miền Đông và miệt vườn miền Tây còn dùng thêm nước giếng để uống. Dân quê miền Hậu Giang ít đùng nước giếng để uống hơn vì nhiều phèn.
Nước đổi: trước 1954 nước đổi là nước máy được chứa trong ghe bầu để bán dọc ven sông. Sau 1954 ở thành phố nước đổi có thể là nước máy trả tiền cho chủ có gắn nước máy chuyền vô nhà.
Nước mảy: trước 1954 chỉ nhà ở thành phố hay quận lỵ mới có nước máy.