Lưu trữ hàng tháng: Tháng Mười Hai 2014

Kết cấu: Từ trong nhà nhìn ra thấy chân núi

Phán đoán: Kết cấu này làm cho người sống trong nhà giảm tính kiên nhẫn, thường cô” chấp, ý kiến của mình trỏ nên “tinh tướng”, nhìn người bằng nửa con mắt. Vậy nên quan hệ với người khác trở nên rất xấu, người trong nhà luôn lục đục, tranh chấp, bởi con cái “xẻ nghé tan đàn” nên chẳng được quan tâm chăm sóc, về già phải sống cô đơn.

Kết cấu: Từ trong nhà nhìn ra, chân nhọn của tiếu sơn nhô từ phía bên trái ra (H-142).

Phán đoán: Bên trái tượng trưng trưởng nam (con trai cả). Chân núi nhọn nhô từ bên trái ra, làm trưởng nam suy giảm năng lực xử lý phán đoán sự việc, tiêu cực thối chí, không thể thực hiện được hoài bão và chí lớn.

Kết cấu: Từ trong nhà nhìn ra, chân nhọn của tiểu sơn nhô từ mé phải ra (H-143).

Phán đoán: Bên phải tượng trưng cho con trai út, với hình thế này sẽ ảnh hưởng rất không tốt tới tình cảm và sức khoẻ của đương sự, thường xảy ra những tai hoạ bất ngờ trong cuộc đời.

Kết cấu: Từ trong nhà nhìn ra thấy chân núi (tiểu sơn) nhọn chĩa thẳng vào nhà (H-144).

Kết cấu: Từ trong nhà nhìn ra, mắt vướng ngay phải chân núi nhọn trường cắt ngang khoảng đất trống (Minh đường) trước nhà, hình chân núi vươn ra như cổ ngỗng (H – 145).Phán đoán: Hình thái này tượng trưng cho con trai giữa, chân núi nhọn chọc thẳng vào nhà sẽ ảnh hưởng rất xấu tối tính cách của đương sự. Thường là xử sự dở dang trong quan hệ xã giao, sức khoẻ hoặc trong nghề nghiệp thường trong thế quẫn bách không tiến lên được, lâu dài luôn dừng chân ‘lẹt đẹt” tại chỗ.

Phán đoán: Với kết cấu này, cư dân trong nhà ở lâu, phần cơ chân sẽ sinh bệnh tật đau đón hoặc chân mang tật đi lại khó khăn; trẻ mối sinh rất có khả năng bị bại liệt.

Ngoài ra, người sống trong nhà thường mang tai tiếng vối bên ngoài, khiến cả thể chất và tinh thần đều mất cân bằng, làm mọi việc đều thất bại.

Kết cấu: đứng trong nhà nhìn ra khoảng đất trống trước nhà có chân núi nhọn chạy lướt qua( h.146).

Phán đoán: khoảng đất trống trước nhà có dãy núi chân nhọn chạy lướt qua, kết cấu như vậy sẽ làm cho chủ nhà khó tránh khỏi vất vả, thường hay ra vào chốn “buôn phấn bán hoa”. Do đó dễ bị mắc bệnh lậu, làm cho sức khoẻ hao mòn, suy kiệt.

Ngoài ra, người cư trú nơi đây dễ bị điều tiếng không hay, khiến cho tinh thần và thể chất mất cân bằng, từ đó bị thất bại trong cuộc sống.

Kết cấu: từ trong nhà nhìn ra, thấy các bò ruộng trước cửa giống như hình cung ngược thành hàng ngang song song, bên phải và trái đối xứng nhau như 2 quả lắc đồng hồ, lắc ngược chiều với ngôi nhà (h.147).

NÚI NHỎ TRƯỚC CỬA

NÚI NHỎ TRƯỚC CỬA Lời dẫn

Với người bàn về phong thuỷ thì núi đồi chắn ngay trước cửa là điều rất có quan hệ vối hoạ phúc. Nếu mở cửa ra là bắt gặp ngay với núi đồi, thì cát hung ứng rất nhanh. Bởi vậy, nếu nhà ở đối mặt với núi nhỏ, thì trước hết nhà phong thuỷ sẽ xem hình dáng của ngọn núi nhỏ ấy thế nào, sau đó mới đoán tướng nhà ở.

Cửa nhà đối diện với núi nhỏ, phong thuỷ gọi là “Sa”. Trong ‘Trạch phổ đại thành” có nói: “Gò đất cao gọi là “Sa”. Ngang (hoành), dọc (trực), nhọn (tiêm), vuông (phương) đều theo Ngũ hành, chủ sát thuận nghịch, cảm ứng như thần, được “tiêu bạt” thì như biến dữ thành lành”. “Tiêu bạt” là gì? Cái gọi là “tiêu bạt” chính là: ngày xưa thầy giáo dạy học trò, lợi dụng “Sa bàn giáo dục” (dạy học bằng bàn cát), “tiêu bạt” trên đó, mô phỏng hình dáng tựa như hình núi đồi, để chỉ dẫn cho học trò rằng “Sa” như thế nào là tốt (cát) nhất, “Sa” như thế nào là xấu (hung) nhất.

Vậy “Sa” như thế nào thì “tối cát” (tốt nhất), “tối hung” (xấu nhất)? Nếu trình bày theo thuyết phong thuỷ cổ đại thì không thể chỉ nói dăm câu ba điều đủ Vả người xưa thường dùng “khẩu quyết’ đặt thành thơ Ị) nhớ một cách máy móc. Người thời nay không đủ thờ gian để học theo cách người xưa, nên rút ngắn và “đơ giản hoá” bằng các hình vẽ sau đây là đủ để minh hoa y nghĩa của núi nhỏ trước nhà đốĩ với vận hạn của gia chu

ĐỒI GÒ ( NÚI NHỎ )TRƯỚC CỬA NHÀ

Kết câu: đứng trong nhà nhìn ra, thấy hai ngon núi nhỏ vươn sang bên trái và bên phải (H-139).

Phán đoán: Gia đình cư trú lâu trong căn nhà có kết cấu địa thê này tính tình trở nên nóng vội, khó giữ thái độ bình tĩnh để suy xét thiệt hơn trước một sự việc, bởi vậy mối quan hệ xã giao “đổi nhân xử thể’ cũng không được tốt. Anh chị em trong nhà bất hoà, hố ngăn cách tình cảm ngày một sâu, do vậy không thể cư trú lâu được.

Kết cấu: Từ trong nhà nhìn ra có 3 ngọn núi nhỏ na ná giống nhau, chắn ngay trước nhà (H-140).

Phán đoán: Kết cấu này làm giảm thiểu thối độ thân tình hoà nhã của gia chủ, tính cách trở nên lầm lỳ thầm kín và tình cảm gia đình luôn nặng nể, không khơi thông khiên song thân luôn buồn phiền thất vọng, con cái đa phần cũng chẳng làm nên “cơm cháo” gì, nói chung là gia phong bại hoại.

Kết cấu: Từ trong nhà nhìn ra thấy hai quả tiểu sơn như hai chiếc sừng trâu từ hai hướng châu lại, mà dầu nhìn của “sừng” như đối chọi với nhau (H-141).

KẾT CẤU HỒ AO, GIẾNG NƯỚC

HỒ AO, GIẾNG NƯỚC

Kết cấu: Đài giếng phun nước, bể bơi hoặc ao hồ, giếng hình tròn, phần giữa lùm lên, tựa như chiếc chảo úp (H-131).

Phán đoán: Với thiết kế giếng, bể, hổ ao này, theo nói trong “Trạch phả đại thành” là có thể táng thêm tài vận của chủ nhá..Nhất là dùng làm nơi cư trú cho người làm công tác thế chấp hoặc tài chính.

Kết cấu: Giếng, bể, hồ, ao..-bốn xung quanh nước nông và thành hơi nghiêng dốc về phía toà nhà (H-132).

Phán đoán: Loại kết cấu này theo như nói trong “Trạch phổ đại thành”, là loại bể, giếng đại cát, đại lợi, bởi nó có thể tàng phong tụ khí, tăng vận tốt cho chủ nhà.

Kết câu: Hồ, bể, đài phun nước bố trí nơi công xưởng (H-133)Phán đoán: Công xưởng là nơi tụ tập đông người, nếu có thiết kê hồ, bể, đài phun nước sẽ nâng cao tinh thần phấn khởi và sức sản xuất cho CNVC, vì nước khiến cho tâm hồn con người thư thái, tăng sự phồn vinh cho công việc làm ăn

Kết cấu: Bể bơi; giếng đài phun nước, hồ ao,.., hình dáng giống như một cánh tây ôm lây chậu nước (H-134).

Phán đọ án: kết cấu phong thuỷ dạng này gọi là “Bão bồn kim hình” (Hình vàng ôm chậu), có hình dáng ao hồ ngoái lại bịn rịn, dung dằng chẳng quyết. Kết cấu này không mấy tốt, bởi nó làm cho người ta dễ mắc tật bệnh về mắt, với phụ nữ có thai sẽ ảnh hưởng không tốt.

Kết cấu: Giếng, đài phun, ao hồ, bể nước hình tròn nhưng nựốc từ túng bẩn thỉu (H-135).‘;*

Phán đoán: Loại kết cấu này gọi là “Thang hung cô diệu hình”, Nước sâu không nhìn thấy đáy dễ khiến trẻ nhỏ rơi xuống chết đuối, hơn nửa nước tù đọng dễ sinh uế khí,’ rất không có lợi cho sức khoẻ con người, sinh ra các bệnh viêm phổi, lao phổi.

Kết cấu: Hồ, ao giếng nước trước nhà có hình dáng như quả bầu (hồ lô) (H-136).

Phán đoán:Do hồ có hình quả bầu, thường nước nông sâu bất thường nên dễ phát sinh tai hoạ bất ngờ, trong Phong thuỷ học gọi là “Hồ lô minh đường (khoảng trống nước nhà hình bầu nậm). Thường khiến vận mệnh gia chủ không được tốt và ảnh hưỏng xấu tới sức khoẻ.

Kết cấu: Bể, hồ, ao nước có hình trăng thượng huyền và bầu cong hướng vào trong nhà (H-137).

Phán đoán: Kết cấu này mang tên “Phản trương kim hình”, khiến mối quan hệ của những người sông trong nhà luôn bất hoà, tài vận suy giảm.

Kết câu: Bể bơi, đài phun, hồ ao có hình dáng như “Biển khiên kim hình”( hình dẹt méo) (H-138).

Phán đoán: Kết cấu phong thuỷ loại này, sẽ khiến cho sự nghiệp của gia chủ luôn bấp bênh xáo động, chỉ thích hợp cho những người hành nghề có tính biến động rất lớn.

TỤC XƯNG MỆNH

Lúc khai bút có thể làm một bài thơ vui hoặc có nội dung thanh cao. Cũng có khi khai bút chỉ viết những chữ chỉ niềm vui, điều tốt.

Khi khách đến thăm nhà hoặc đi thăm ai đó, họ mang theo bài thơ đã làm đọc cho mọi người nghe rồi bình.

Nghe nói, việc khai bút vào những ngày Cát đầu năm như vậy thì những việc bút nghiên, học hành, nghiên cứu trong năm nhiều thuận lợi. Tục này còn truyền đến ngày nay đối vối học sinh, tri thức, họ chọn những ngày Cát đầu năm mang việc ra viết hoặc làm bài đối với học sinh, sinh viên.

Theo phong thuỷ học, trên bàn học tập và làm việc, nên để một cột thuỷ tinh trong trắng, để chiêu sinh khí. Làm như vậy đầu óc sẽ minh mẫn sáng suốt, viết và học tập, suy nghĩ điều gì cũng tốt. Nếu để thêm một tháp Văn xương nhỏ bằng gốm hay gỗ, thuỷ tinh, thì thi cử đỗ đạt cao.

TỤC XƯNG MỆNH

Người phương Đông căn cứ vào năm, tháng, ngày sinh để định lượng vị trí sinh trong không gian. Từ định lượng vị trí sinh trong không gian này mà dự đoán số phận của từng người. Sự định lượng thời gian sinh này gọi là thuật xưng mệnh.

Thuật xưng mệnh đã lưu truyền từ lâu ở một số nước Châu Á như: Trung Quốc, Việt Nam… và trở thành một phong tục dân gian.

Định lượng thời gian hay tục xưng mệnh căn cứ vào bốn yếu tố là: NĂM, THÁNG, NGÀY, GIỜ sinh. Để định lượng, người phương Đông cổ xưa căn cứ vào đơn vị đo khốỉ lượng cổ là: LƯỢNG và TIÊN (1 lượng = 10 tiền). Sinh mệnh (xưng mệnh) của một người được tính bằng cách lấy tổng định lượng của năm, tháng, ngáy, giờ sinh.

Ví dụ: tính xưng mệnh của người sinh tháng 2, ngày mồng 5, giờ Thìn, năm Giáp Tý.

Cách tính: căn cứ vào cách định lượng của người xưa (theo 4 bảng sau đây) thì:

Năm Giáp Tỷ Tháng Hai Ngày mồng 5 Giờ Thìn

định lượng là: 1,2 lượng định lượng là: 0,7 lượng định lượng là: 1,6 lượng định lượng là: 0,9 lượng Như vậy, tổng sinh mệnh người Giáp Tý này là- 1,2 + 0,7 + 1,6 + 0,9 = 4,4 (lượng)

Người sinh mệnh càng lớn, phúc lộc tài trí càng lớn.

Để tiến hành xem xét sinh mệnh (xưng mệnh) của một người, người xưa lập ra bảng quy cách lượng sinh mệnh với lượng số từ: 2,1 (lượng); 2,2; 2,3… đến cao nhất là 7,1 (lượng) ta tìm lượng số 4,4 này trong bảng đó, sẽ biết được khái quát cuộc đời người trong ví dụ trên.

Lưu ý: Ngày, tháng, năm và giờ tính theo lịch âm

Đây là tập tục xưng mệnh theo phong tục dân gian của người xưa, người đương đại căn cứ vào đó để suy ngẫm, việc đúng sai cần phải bàn.

Sau đây là bảng lập thành định lượng sinh mệnh (xưng mệnh) theo: Năm, tháng, ngày, giờ của người xưa, chúng tôi nêu ra để mọi người tham khảo.

Thái cực quyền

a. Thái cực quyền:

Là phép luyện tập kiểu động công do Hoa Đà (145- 280 Công Nguyên) khi quan sát các loài trong ngũ cầm (5 giống chim điểu) mà đặt ra. Thái cực quyền có 24 động tác. Tuy tập 24 động tác này có thay đổi, song thực chất từ động tác này sang động tác tiếp theo không đứt đoạn mà liên tục nối nhau biến chuyển tương lập, tương sinh thành một đường khí vận động trong cơ thể. Phép luyện rất ích cho dưỡng khí nhất là người có tuổi trở lên. Lưu ý: khi luyện tập phải diệt ý chỉ còn một ý nghĩ về dòng vận khí trong cơ thể mà các động tác tiến lui chỉ là tượng trưng dòng đi của khí.

Trong sử sách, Hoa Đà luyện khí theo thái cực quyền vì thế không những ông trường thọ, mà còn cường tráng, minh mẫn. Năm 99 tuổi tay chân vẫn khoẻ, mắt vân sáng, răng không rụng cái nào!

  1. Phép thở:

Phép của động công là phép thở hô hấp đan điền, nghĩa là khi hít vào đưa không khí không chỉ vào phổi mà còn vào huyệt đan điền ở bụng (gần rôn). Còn có cách đưa không khí đến tận chân, Trang Tử bậc triết nhân Trung Hoa cổ có nói: “Bậc chân nhân hít thở không khí đến tận chân, người thường chỉ hít thở đên cổ họng mà thôi” (chân nhân hô hấp thâm nhập cước, phàm nhân hô hấp tiến tại hầu). Thở được như vậy sẽ trừ được bệnh, người cường tráng.

Đòi Đông Tấn (0317-0420) Trung Hoa cổ đại, có thuật sĩ Đạo Gia Cát Hồng đưa ra phép thở thèo kiểu “thai tức”, nghĩa là thở như thai nhi trong bụng mẹ:

Thở bằng mũi, không thở bằng miệng, hít vào lâu, thật sâu sau mới từ từ thở ra. Ông khuyên sau khi hít vào ngưng thở, đếm từ 1 đến 120 tiếng rồi mới thở ra. Lượng không khí thở ra ít hờn lượng không khí thở vào, nghĩa là luôn giữ lại một phần không khỉ trong lành trong cơ thể. Người siêng năng luyện tập có thể kéo dài thời gian giữ hơi đến 1000 (đếm) mối thở ra. Ai luyện đến mức này có thể cải lão hoàn đồng.

Trung Hoa cổ xưa cũng còn cách động công khác qua hít thở để khoẻ mạnh, trị bệnh và tránh già nua bằng cách: thở ra thì phình bụng hết cổ, hít vào xẹp bụng hết cố. Chu trình thở chia làm ba giai đoạn vối tỷ lệ thời gian là 1:1:1; Nghĩa là: thở vào thời gian là 1, ngưng thở giũ không khí trong người là 1, thỏ ra là 1. Độ dài thòi gian từng khoảng lâu chậm tuỳ sức mỗi người. Lưu ý, thở vào đưa xuống khoảng bụng dưới rốn, khi thở vào đóng hậu môn.

MỰC KHAI BÚT

Xưa các nhà Nho, những người đang học hành có tục khai bút đầu xuân, vào dịp tết Nguyên Đán. Để khai bút, họ chọn ngày đẹp và vào giờ Hoàng đạo.

Trung Hoa cổ xưa còn đưa ra nhiều phép động công

xuống vùng đài trung (điểm giữa 2 vú ở ngực). Sau đó, lại dẫn khí tiếp xuống đan điền, từ đan điền lại dẫn khí đi theo đường cũ, đến rồi lại đến đan điền.,. Cứ như thế luyện từ 5 phút trở đi tuỳ theo điều kiện mỗi người.

Khi luyện, lúc đầu có khó khăn, sau đó quen dần tưởng tượng và cảm nhận được dòng khí (có thể nóng, có thể mát lạnh, tuỳ người) chạy theo vòng tuần hoàn đó.

Bí quyết của phép luyện là diệt ý nghĩ chỉ còn một ý nghĩ và đưa khí vào các huyệt, dẫn khí đi. về thòi gian tốt nhất là lúc 7 – 9, 9 – 10 giò tối và 5 – 6 giò sáng.

  • Tồn thần và thanh tâm:cũng là phép luyện ý không nên vọng động, hăng say trong các ham muốn, làm cho lòng mình thanh thản: “vui đến mức, buồn tới độ”, gặp điều may không quá vui, gặp điều buồn không quá buồn và sầu não, gặp điều bất băng không quá khó chịu, tức giận… Thực ra phép luyện này rất khó, vì cái sân (nóng giận) là yếu tô’ sẵn có trong bất cứ ai. Phật Giáo kêu gọi tới diệt sân được cũng là đắc đạo.
  • Thuỷ chân và luyện hình: thuỷ chân nghĩa là tự lấy mình làm tiêu chuẩn để phấn đấu trở thành chính mình. Con người làm được diều đó sẽ tự do, tự tại là sẽ có tất cả.

Luyện hình không thuộc tĩnh công, đó là các phép thể dục thể thao mà người phương Tây cũng có và họ phát triển. Đây chỉ là cách tập bổ trợ trưốc khi vào tĩnh công.

  1. Động Công

Cũng là phép đạo dẫn, phép này có:

  • Khai quan:mở các khớp xương.
  • Khởi tỳ:khởi động mạnh tỳ vị làm điều tiết mạnh nhưng nhu hoà các dịch vị tiêu hoá.
  • Khai khí uất: khơi, xả các khí uất, các thán khí, các khí độc, khí thải trong cơ thể qua hô hấp, qua các huyệt đạo.
  • Lục tự khi,là bí quyết hay “công nghệ” thở ra, hít vào phát âm, dựa theo sáu chữ: Ha, Hô, Hí, Hư, Xuy, Hi, Cách làm như sau: mím miệng, nín hơi, không để tai nghe tiếng gì cả, hơi thỏ ra nhỏ mà dài… cho đến hết tận cùng mói gọi (tự nghĩ) ra tiếng mà mình đang làm. (Đương nhiên thở ra như vậy phải có hít vào, lúc hít vào làm tương tự).

Khí ha (tiếng Ha) chữa bệnh tâm, khí Hô chữa bệnh tỳ, khí Hí chữa bệnh phổi, phê quản, khí Hư chữa bệnh gan, khí Xuy chữa bệnh thận, khí Hi chữa bệnh tam tiêu (bệnh về đường tiêu hoá).

Các khí trên trị được bệnh thì cũng làm cho các bộ phận: tâm, can, tỳ, phế, thận, khoẻ, bình thường. Do vậy, không phải chỉ có bệnh mối động công theo 6 chữ như trên!

Trung Hoa cổ xưa còn đưa ra nhiều phép động công còn lưu truyền cho đến nay, thành một sinh hoạt văn hoấ truyền thống: Đó là các phép:

Cổ nhân rất quan tâm đến phương cách bế tinh

  • Người xưa có câu “Bế tinh bổ não” là như vậy. Song không phải ai cũng có khả năng bế tinh. Để làm được điều này người Trung Hoa cổ đã dùng phép thai tức khi nam nữ gặp nhau lúc tinh khí có khả năng xuất ra bằng cánh hít một hơi (bằng mũi) thật dài đưa vào khoang bụng, sau đó nín hơi thật lâu (tự nghĩ đếm từ 1 đến 30 trở đi) rồi từ từ thở ra. Làm như vậy nhiều lần, tinh khí sẽ lưu lại trong cơ thể. Phương pháp bê tinh này cũng còn có tên là “Thái âm bổ dương”.

Cổ nhân rất quan tâm đến phương cách bế tinh. Họ căn cứ theo mùa trong năm mà nam nữ gặp nhau. Người xưa nói: ‘Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàn (mùa Xuân vạn vật sinh sôi phát triển, mùa hạ vạn vật trưởng thành, mùa thu vạn vật dừng lại, thu lại, mùa Đông vạn vật giữ mình và có hiện tượng tàn lụi)- Con người là một bộ phận của tự nhiên, cũng tồn tại và phát triển theo quy luật như vạn vật theo mùa trong năm. Chính vì vậy, để dưỡng sinh, người xưa đưa ra khuôn thức:

“Xuân bát, Hạ tứ, Thu nhất, Đông cô (Mùa Xuân gặp nhau 8 lần, mùa Hạ 4 lần, mùa Thu 1 lần còn mùa Đông thì ngừng nghỉ).

  • Dương khí: là lưu tồn và luân phiên thay đổi cái “khí” của cơ thể với thiên và địa. Khi ở đây cũng như dòng điện, có nhưng không trông thấy. Như quạt điện, có dòng điện thì chạy, mất điện thì dừng. Khí là yếu tố duy trì sự sống một người, người xưa nói “khí tuyệt thì mệnh tuyệt”, người khí kém sẽ ôm yếu, sẽ thiểu năng mọi sự, người mất khí như các đồ dùng chạy điện mà mất điện, sẽ không sông. Để dưỡng khí người xưa khuyên nên ít nói, nói nhỏ nhẹ đủ nghe, không nói to hay gào thét, cổ nhân có câu: “Mở miệng khí tán, lòi nói thị phi suy” là vậy. Đây là cách dưỡng khí đơn giản nhất.

Còn một cách dưỡng khí và lưu thông khí là phép “Tiểu châu thiên”. Phép luyện như sau:

Ngồi xếp bằng tròn theo thể toạ thiền, hoặc ngồi trên ghế cao, hạ chân thõng xuống, không tiếp đất (đặt một vật bằng gỗ vải, giấy…. xuống dưới bàn chân) ở tư thế thứ hai này, dễ làm, hai tay để trên đùi, lòng bàn tay ngửa lên. Thở nhẹ nhàng, mắt khép lại giảm ý nghĩ còn 2 đến 1 ý nghĩ. Sau độ, chỉ nghĩ đến dòng khí vào huyệt đan điền (chỗ gần Rốn phía dưới) tưởng tượng đưa khí này xuống huyệt hội âm (chỗ sát giữa cơ quan sinh dục và bàng quang), sau đó dẫn khi sang phía sau lưng chạy dọc cột sông lên phía trên cổ, lên ngọc chẩm là chỗ sau gáy tới đại não (đỉnh đầu – huyệt bách hội)

HONG TỤC ĐẠO ĐAN – DƯỠNG SINH

khi mua quà, mua thêm một xuất để đấy không ăn mà mang về nhà.

Tục này ngày nay vẫn lưu hành một cách thầm lặng trong dân gian, cho dù khoa chữa vô sinh của y học hiện đại đã thành công. Hoặc dân gian lựa chọn hai phương án cùng một lúc: trưóc khi chữa vô sinh, đi vào chùa cầu tự. Dân gian cho rằng, những đứa con cầu tự là những đứa con đặc biệt đáng có.

Lưu ý: người xưa cho rằng, muốn cầu tự có kết quả, đòi hỏi người cầu phải tin, không một chút nghi ngò. Khi đi chọn ngày tốt cho “cầu phúc cầu tự” thường được ghi trong Lịch thư dân dụng (Hoàng lịch) và các loại lịch khác. Ngày “cầu phúc cầu tự” chọn bất kỳ ngày nào trong năm.

HONG TỤC ĐẠO ĐAN – DƯỠNG SINH

Du khách các nước phương Tây đến một số nước khu vực Đông Nam Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Xinggapo… thấy dân chúng ở đây có những phép tập dưỡng sinh đặc biệt mà nước họ không có – đó là phép Đạo dẫn I Dưỡng sinh. Phép Đạo dẫn I Dưõng sinh đã có cách đây hàng ngàn năm, đã truyền và tồn tại cho đến ngày nay, đã trở thành một sinh hoạt văn hoá I văn hoá dưỡng sinh, hay một tập tục của người Đông Nam Châu Á.

Tục hay phép đạo dẫn-dưỡng sinh dựa trên cơ sở của đạo Gia Trung Hoa cổ mà thuỷ tổ của phái này là Lão Tử.

Ngài Trần Hàm Tấn, một trí giả nói một cách đơn giản về phép đạo dẫn nhứ sau:

“Đạo là “dắt đi” dẫn là “giãn ra” lời nói này được Trang Tử, bậc minh trí Trung Hoa cổ đại đề cập tới: “Dắt khí đi để khí hoà, giãn thể ra để thể mềm” (Đạo khí linh kỳ hoà, dẫn thể linh kỳ nhu). Phép này cốt để cho khí huyết lưu thông không ngưng trệ, sẽ làm cho cơ thể khoẻ mạnh, không sinh bệnh và trị bệnh.

Trong Tố Vấn Thư, một sách cổ Trung Hoa có ghi về pháp đạo dẫn sau: “Ăn uống có tiết, ở dậy có thường, chẳng cần làm nhọc trọng giữ tinh thần [thì] bệnh từ đâu lại? cho nên hay hết tuổi tròi của mình, qua trăm năm mới đi”.

Xích Tùng Tử một vị luyện theo phái Đạo Gia (tu tiên) Trung Hoa cổ có nói về luyện phép đạo dẫn là:

“Thở ra, hít vào” (Suy, Hư, Hô, Hấp). Theo phép này, phép tu dưỡng có hai phần:

  1. Tĩnh công

Như luyện khí, luyện tinh, luyện thần, luyện đan (luyện đan: đưa khí vào huyệt đan điển, phía trên theo vòng nhâm Đốc theo học thuyết Kinh Lạc của Trung y). Câu phương ngôn: “Bê tinh; dương khí tổn thất thanh tâm; quả dục; thuỷ chân luyện hình; là theo hướng tĩnh công.

Bế tinh: đối vối nam giới, việc giữ lại trong cơ thể tinh khí là điều rất quan trọng đảm bảo tuổi thọ, anh minh sáng trí và cơ thể cường tráng.

Tục cầu tự

Ví dụ: tránh đặt tên là: Thuỷ, Ngọc, Tiếu, Nghĩa,… mà nên đặt tên là: Hà, Nhân, Toàn, Vân, An, Ban, Nam, Lam…

Tục đổi tên: người xưa khi có tên mà họ cảm thấy không hay, làm ăn, học hành không như ý…, họ lên chùa làm sớ khai tên cũ đổi tên mới, nhờ nhà chùa làm lễ rồi đem hoá. Nghe nói tên mình đã được đổi và một vận mối tốt bắt đầu.

Tục CẦU Tự

Tục cầu tự – nguyên nghĩa là cầu thần để vợ chồng muộn con có con, sau này mở rộng cho các gia đình chưa có con trai để nối dõi tông đường.

Từ xa xưa, tục cầu tự là khát vọng của các đôi vợ chồng muốn làm cha mẹ, muốn góp phần vào duy trì dòng giống của tổ tiên, thứ đến là: giữ gìn gia đình khỏi tan võ vì vô sinh.

Tục cầu tự có lịch sử lâu đời tại Châu Á, tương truyền, Khổng Tử (551-479 trước Công Nguyên), nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Hoa cổ là con cầu tự. Sử cũ ghi rằng, Thúc Lương Ngột, là quan đại phu ở Trâu ấp, và cũng là dũng tướng sức khoẻ hơn người, lấy hai tay nâng nổi cánh cửa treo ở thành Bức Dương xưa trong một trận đánh. Ông kết duyên cùng bà Trưng Tại họ Nhan nhưng muộn con. Ông cùng Bà bèn vào lễ cầu tự ở Ni Sơn, sau về nhà có thai, sinh hạ ra Khổng Tử. Khổng Tử sinh ra tướng lạ: môi như môi trâu, tay như tay hổ, vai như vai chim ưng, lưng như lưng rùa, miệng rộng, hầu lộ, trán phẳng và cao. Vì đi cầu tự ở Ni Sơn mà cố nên cha đặt tên là Khâu do đó có lúc người ta gọi Khổng Tử là Khổng Khâu.

ở nước ta, xưa lưu hành nhiều truyền thuyết về các nhân vật lịch sử ở các đời Ngô, Đinh, Lê, Nguyễn, được sinh ra do bố mẹ đi cầu tự ở các ngôi Chùa,

Đền. Do vậy, tục cầu tự vẫn lưu hành từ bao thế hệ từ xưa tới nay ồ những cặp vợ chồng hiếm con và hiếm con trai.

Tại Hội Chùa Hương huyện Mỹ Đức, Hà Tây, nhiều cặp vợ chồng muộn con và hiếm con trai thường đến đó để cầu tự. Họ cố leo lên chùa Chính: Động Hương Tích. Sau khi lễ bái thành kính Đức Quan Âm Bồ Tát tại đây và xin có con theo ý nguyện, sau đó hai vợ chồng xoa tay vào hòn nhũ đá gọi là núi cậu đê cầu con trai, còn ai xoa vào hòn nhũ đá gọi là núi cố thì muốn sinh con gái. Sau khi lễ xong, rồi Chùa Hương, các cặp vợ chồng tự tưởng tượng những đứa con mà Bồ Tát cho đang “theo” mình về nhà. Do vậy, khi ra đò, họ mua thêm về không cho đứa con “tương lai”

ĐẶT TÊN ĐỔI TÊN

Không cho bé xem tivi, không ôm trẻ mối sinh ngủ. Không cho trẻ sơ sinh nằm nằm ngủ giường mềm. Không mặc quá nhiều và kín cho trẻ sơ sinh. Không cho trẻ ở trong môi trường tĩnh mịch. Không cho trẻ sơ sinh gối đầu. Không cho trẻ sơ sinh ngủ ỏ mãi một tư thế. Không để đèn sáng cả đêm trong phòng ngủ của bé. Nên tráng dùng quạt điện cho trẻ sơ sinh. Coi trọng tắm nắng cho trẻ. Hãy để cho trẻ khóc bình thường. Hãy giữ ấm bụng trẻ sơ sinh. Không cho trẻ mút núm vú khi ngủ. Không coi nhẹ cách tắm đúng cho trẻ . Hãy coi trọng tắm nắng cho trẻ. Hãy cho trẻ đi tất. Không hù hoạ trẻ. Không dùng bột giặt để giặt tã lót cho trẻ….

ĐẶT TÊN ĐỔI TÊN

Dân gian Việt Nam xưa, khi sinh con không phải khai sinh ngay, nên chưa đặt tên mà chỉ quen lệ gọi bằng cái tên: thằng cu, cái hĩm, thằng tý, cái tý…

Khi đứa trẻ lớn lên khoảng gần chục tuổi, bô”, mẹ hay ông bà (nếu còn) đặt tên chính thức theo nguyên tắc: không trùng tên vói những người ruột thịt trong họ. Có trường hợp do bố mẹ chưa biết hết, đặt trùng tên ai đó trong họ gần, hoặc phạm phải tên riêng như tên người trong họ đã mất, tên huý kỵ của nhà vua, tổ tiên, thì đặt tên lại cho đứa trẻ. Do vậy, có đứa trẻ phải đặt tên đến hai ba lần.

Lý do của tục đặt tên trên, được người xưa lý giải: làm như vậy dễ nuôi, khi lốn lên, cuộc sống bình ổn.

Tục đổi tên xưa còn có ở những người trưởng thành, khi cuộc sống của họ quá nhiều điều vất vả, hoặc đi thi nhiều lần mà không đỗ đạt. Đối với những người này, khi đổi tên thường lên chùa viết số, chọn một tên mà mình muốn, khấn xong hoá số đi.

Đối với việc chọn và đặt tên như thế nào, cổ nhân xưa đưa ra nguyên tắc sau:

  1. Tên tránh dùng chữ có nghĩa là quá đầy đủ, ví dụ tên là: Phúc, Mãn, Thịnh, Vượng, Đạt, Phú, Vinh.
  2. Tránh đặt tên quá cứng rắn và mạnh mẽ như tên là: Phi, Cường, Viêm, Thắng, Mạnh, Phát, Lực, Hùng…
  3. Tránh đặt tên có nghĩa hư hoa, hư vinh, phù phiếm, như đặt tên là: Hoa, Xuân, Đào, Cảnh Hường, Ánh…
  4. Tránh đặt tên có nghĩa âm ám, hôn trầm, như tên là: Đông, Đạm, Mạt, Nhược, Thâm, Ngâm…
  5. Tránh đặt tên có nghĩa thấp kém, hèn, tục tằn, như: Tiện, Hạ,…
  6. Tránh đặt tên, khi viết ra có nhiều chữ như: Khuynh, Huỳnh, Tuynh, Thoảng, Thuyết…
  7. Tránh đặt các tên mà nghĩa lạnh lẽo lập dị: như tên: Lãnh, Băng, Hàn, Tuyết, Đãn, Giá, Cước…

Ngoài các tên theo nguyên tắc trên, người xưa tránh đặt tên khi phát âm thành chữ có dấu sắc, nặng, hỏi, ngã, mà hướng tối đặt các tên có chữ không dấu, nếu có thì nên dấu huyền.