Lưu trữ hàng tháng: Tháng Ba 2015

Trung tâm nhà không sạch sẽ

Nơi ỏ, các căn phòng phải có ánh sáng mặt trời chiếu vào, gọi là: dương quang sung túc. Nếu phòng ở ánh sáng không đầy đủ hoặc quá yếu ớt thì dẫn đến âm khí nặng nề, từ đó gia trạch không yên, nhiều sự cốcxảy ra, cũng không nên ở.

  1. Trung tâm nhà không sạch sẽ

Điều này muốn nói trung tâm nhà không nên làm nhà vệ sinh, có bể phốt. Hoặc có căn nhà nhà vệ sinh đặt chính phía giữa sau nhà mà lại nhìn ra cửa chính thành một đường thẳng thì cũng không nên ở, vì sẽ tán tài tổn thọ. (Hình vẽ H.l)

Hình 1

  1. Ngõ phố trực xung

Cổ nhân cho rằng, đường vào nhà theo kiểu “hồi tuyền” (vòng quanh) là hay nhất, kiêng trực xung T tức chạy thẳng vào nhà. Đầu phòng ở cũng kỵ xung đối, tức đường chạy thẳng vào đầu “trái nhà”, mặc dù đây chỉ là bức tường mở cửa sổ hay không mỏ cửa.

CỔ nhân cho rằng, đây cũng là dấu hiệu sẽ gây hoạ, khôr^ thể không quan tâm.

Nếu cửa chính căn nhà có đường đi chính chiếu thẳng vào, mà con đưòng càng dài bao nhiêu thì điềm báo hung hoạ lớn bấy nhiêu. Đây là thê mà ngưòi xưa gọi là “hổ khẩu ốc” (nhà miệng cọp), ngôi nhà này khó mà yên để ở (H.2)

Cửa chính

Hình 2

  1. Địa thế nhà nên bằng phẳng

Nếu mua nhà hoặc xây nhà nơi mặt đất nghiêng chếch, thì phải thận trọng. Nếu căn nhà có cửa chính đối diện vói con đưòng là sưòn núi (hoặc đồi) thẳng hoặc chếch nghiêng cũng rất nguy hiểm. Nếu ở điềm báo gia tài hao tổn, gia đình ly tán, ngưòi ra đi không trỏ vể (H.3)

Những nhà ở cuối dốc nghiêng cũng là thế thoát khí, dễ hao tài (mất của). Nếu dốc đồi (hay núi) cấp và hẹp mà dưới đó có nhà (H.4) thì điểm báo còn thiệt người.

Do vậy, ỏ nơi đồi núi, nên chọn chỗ bằng phang, rộng mà làm nhà, tránh làm gần hoặc cuối sườn dốc. Song không để đường hoặc sườn dốc chạy vào cửa chính.

  1. Không gặp nhai đạo phản cung

Là căn nhà đằng trưốc có đường cong, mà đỉnh, đường cong chạy trước nhà, vào giữa cửa chính. Vị trí nhà như vậy được ngưòi xưa gọi là nhai đạo phản cung hay liêm đạo sát yêu, nhà ở thế này không nên ở.

Theo sách cổ của Trung Hoa cho rằng, nhà bị nhai đạo phản cung thì người ở không yên, có khi bị thương và hoả hoạn, hoặc bị các bệnh hiểm nghèo. Trong sách Bát Trạch minh cảnh cũng ghi, đằng trước nhà như lưng cánh cung ấy là điềm hung.

Không đối diện vối Thiên trảm sát (trời chém) ở những đô thị lớn, có những dãy nhà cao tầng dài nằm hai

Tình trạng nếp nhà

khi mua nhà rất để ý các chi tiết sau:

  1. Ai ra tiếp đón

Khi vào mua nhà, xem ai là người đầu tiên ra mở cổng, mở cửa tiếp họ. Nếu là đứa trẻ hiếu động, chàng thanh thiếu niên, hoặc ngưòi đàn ông, đàn bà khoẻ mạnh thoáng động ra tiếp thì việc mua bán chắc thành về phía người mua (quyết mua).

Còn nếu một ngưòi già lụ khụ, ngưòi bệnh tật ốm yếu, ngưòi lạnh lùng khô kiệt trầm cảm, ra mở cổng , mở cửa tiếp thì việc mua bán cũng khó thành từ phía người mua.

Người xưa quan niệm, ngôi nhà có người ra tiếp như vậy là phúc lộc đã suy, nên tránh ở.

  1. Tình trạng nếp nhà

Khi vào nhà, người xưa quan sát bậc cửa (bằng gỗ, nét đặc trưng các nếp nhà xưa) hoặc bậc thềm nhà. Nếu bậc cửa, thềm nhà sứt mẻ, nhiều vết băm của dao, có vết mòn, chứng tỏ ngôi nhà trước đó có nhiều người qua lại, có nhiều trẻ con nghịch ngợm, người xưa cho rằng, gia đình có nhà bán đã rất thịnh, con đàn cháu đông, phúc lộc nhiều, cổ nhân có câu: Môn đa khách đáo thiên tài đáo Gia hữu nhân lai vạn vật lai

Nghĩa là: nhà có nhiều người đến thì tài lộc cũng đến nhiều, cửa rộng (ý hiếu khách, chủ nhân xởi lởi) thì cái tài, cái trí cũng vượng ỏ đây.

Còn nếu căn nhà mọi thứ như thềm nhà bậc cửa vuông thành sắc cạnh, sạch sẽ,… dấu hiệu ít ngưòi lai vãng và động chạm đến, thì họ coi như nhà vắng vẻ, ít phúc, ít lộc không nên mua .

Ngoài hai dấu hiệu trên, cổ nhân còn căn cứ vào các yếu tô” sau:

  1. Yếu tố phong đại bất nghi

Khi mua nhà, đầu tiên người ta xem xét bên ngoài ngôi nhà, xem xung quanh ngôi nhà có bị khuyết lõm hay không.

Thứ tiếp, người ta quan tâm đến phong thế: đó là thế để gió, khí thổi vào nhà. Nếu có luồng khí hay gió mạnh thổi vào nhà theo một đường hẹp thì họ không mua. Vì nơi ở này quá vượng khí, làm khí tụ bị gió thổi cho thành vô dĩ, điềm báo của cải không thể lưu lại nếu ở đây.

Điều kiện này, được phong thuỷ rất coi trọng, đó là vấn đề “tàng phong tụ khf’ (giữ gió tụ khí) . Nói lên nơi ở có thế gió mạnh và động hưống vào thì ngôi nhà đó không ỏ vượng địa, không lợi.

Song ngược lại, nếu phong thế của ngôi nhà quá chậm, không khí trong nhà lưu thông không đáng kể, thì tài lộc ở ngôi nhà này không thuận, cũng không tôt.

Hoàn cảnh nơi ở lý tưởng nhất là gió hiu hiu từ từ thổi vào một cách nhè nhẹ, nhu hoà.

Dương quang sung túc (đủ ánh sáng)

XÂY DỰNG NHÀ VÀ BỐ TRÍ NƠI Ở TRONG DÂN GIAN

Mỗi lần đọc xong một bài chú là dịch chuyển một hạt, dịch hết 36 hạt (đến một cái nút đánh dấu) là đã đọc đến 36 lượt.

Số lần đọc đắc nhất để tĩnh tâm, xả trừ tâm vọng động là 108 lần.

Cách tụng đọc chú trên là đối với những người có điều kiện và thòi gian. Thường thì ngưòi ta đọc tụng các chú trên ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, sô” lần tụng không tính, nghe nói cũng làm tĩnh tâm và nghiệm.

Ngoài các bài chú trên, dân gian còn tụng, đọc các bài chú khác, như: Chú Đại Bi, Chú Thủ Lăng Nghiêm, Quan Am linh cảm chân ngôn, Ma ha Bát nhã Ba la mật tâm kinh, Chuẩn đề thần chú…

XÂY DỰNG NHÀ VÀ BỐ TRÍ NƠI Ở TRONG DÂN GIAN

Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á có phong tục xem xét thời gian, vị thê đất đai khi dựng nhà và các công trình công cộng, điều mà các nước phương Tây không có. Ngưòi phương Tây khi có điều kiện thì dựng nhà bất kể là lúc nào, người Trung Hoa, Việt Nam lại không như vậy, họ còn xem liệu ở tuổi nào mới làm được! Đây là một phong tục rất đặc biệt, nó lưu truyền từ xưa cho tối nay. 0 Việt Nam, quả thật, không một người nào khi xây nhà, sửa nhà… lại không xem xét thế đất, chọn hướng và thời gian tiến hành. Sự đúng sai, hợp lý hay không, không thể khảng quyết, bởi lẽ ai ai cũng làm như vậy, mặt khác, chưa có một công trình khoa học nghiêm túc nghiên cứu về vấn đề chọn hay không chọn điều kiện dựng nhà theo thói quen của người phương Đông, mà đưa ra kết luận hợp lý hay không hợp lý.

Cũng có thời, có lúc người ta bài bác chuyện dựng nhà, xong họ lại chưa đưa ra được lời lý giải và minh chứng. Do vậy, phong tục này vẫn tồn tại và phổ biến từ xưa tới nay. Sau đây là những phương thức để tiến hành dựng nhà, bô trí nơi ăn, ỏ và sinh hoạt trong nhà của người phương Đông cổ xưa còn lưu truyền trong dân gian Việt Nam đến ngày nay. Đây là một cách xem xét theo thói quen trong dân gian, chưa có cơ sở khoa học xác đáng, đặc biệt là nhà ở đô thị, các căn hộ chung cư. Chúng tôi chỉ nêu ra để bạn đọc tham khảo.

CÁCH CHỌN NHÀ

Hiện nay một số ngưòi ở Việt Nam, khi mua nhà, họ rất kỳ công xem xét, tìm hiểu lựa chọn ngôi nhà cần mua. Có những ngôi nhà vị trí thuận lợi, giá cả hợp lý, lại có phần thấp, song họ không mua, có căn nhà giá cao, vị trí địa lý chưa đẹp thì họ lại quyết mua bằng được. Theo phong tục dân gian, người xưa

Các bài chú trên được Tụng niệm

Theo Phật giáo, việc làm này làm cho cá nhân có thời cơ chuyển sinh lên cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà mai sau. Để tiện sử dụng , xin giới thiệu Chú Vãng Sinh sau đây:

Nam Mô A di đa bà dạ. Đa tha dà đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đa, tất đam bà tỳ. A di rị đa, tì ca lan đế. A di rị đa, tỳ ca lan đa. Dà di nị dà dà na. Chỉ đa ca lệ, ta bà ha (đọc 6, 12,18, 36,108 lượt nghĩa là bội của 6).

Để luôn luôn làm và tăng nghiệp thiện, tạo thời cơ cải thiện cuộc sống trong hiện tại và tạo thời khắc định nghiệp – chuyển sinh tới các cõi phúc mai sau, dân gmn Việt Nam xưa và nay còn thực hành các khoá tụng kinh Pháp Hoa, kinh Đia Mẫu… đặc biệt là các thần chú của Phật giáo như: Tiêu tai cát tường thần chú, Dược sư quán đỉnh chân ngôn.

Dân gian tin rằng, những người thường xuyên tụng (đọc) chú Dược Sư quán đỉnh chân ngôn, có thể tiêu trừ được bệnh tật, kể cả bệnh hiểm nghèo (đương nhiên phải song song với việc dùng thuốc).

Các bài chú trên được Tụng niệm thường vào lúc 7h đến 9h tổì, mỗi bài đọc theo bội sô” của 9 (9 lần, 18 lần 36 lần, 108 lần). Nếu thuộc lòng, cũng có thể tụng đọc vào bất cứ lúc nào, kể cả lúc đang làm việc.

Khi đọc chú phải tuân theo nguyên tắc tam mật: ý Mật, thân mật, khẩu mật. Nói gọn lại, việc đọc chú phải frang nghiêm, nói thành lời, nhưng chỉ một mình mình nghe thấy, ý nghĩ đọc tụng chú không được ai dò biết. Việc làm này không khó. Sau đây là hai bài chú nói trên.

Tiêu tai cát tường thần chú Nắng mồ tam mãn đá, mẫu đà nẫm, A bát ra để hạ đa xá, ta nẵng nam. Đát điệt tha, úm già già. già hế, già hế, hồng hồng nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra. Đề sắt sá, đề sắt sá, sắt trí rị, sắt trị rị, sa phấn tra, sa phấn tra, phiến đề ca, thất dị duệ, sa phạ ha

(đọc đi, đọc lại: 9 lượt, 18 lượt,… 108 lượt)

Dược sư quán đỉnh chân ngôn Nam mô bạt dà phạt đế, bệ sát xã lụ rô thích lưu ly, bát lặt bà, hắt ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hắt đế, tam miệu tam bột đà da. Đát điệt tha. án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế ta ha.

(Đọc đi đọc lại: 9 lượt, 18 lượt108 lượt)

Các bài chú trên, theo quy định, tốt nhất là đọc các số lần là bội số của 9. Đe tránh sự nhầm lẫn, người ta làm ra vòng tràng hạt, có sô” hạt là 36, 72, 108.

Nghiệp theo trí nhớ đã qua mà chuyển sinh đọa đến

chung, sẽ nhân theo nghiệp lực mà hướng lên các cảnh giối tốt hơn. Việc niệm phật là phương tiện để tĩnh tâm tạo nghiệp thiện. Vậy nên đã có tục niệm Phật trong dân gian từ xưa tối nay.

  1. Nghiệp theo trí nhớ đã qua mà chuyển sinh đọa đến

Trường hợp này, khi sống không có những việc thiện, việc ác gì lốn (nhưng vẫn có hành vi tạo nghiệp thiện hay nghiệp ác), họ không có thói quen làm thiện nghiệp, ác nghiệp, đến khi lâm chung, hấp hối khởi lên sự sợ hãi, hốt hoảng, không biết đi về đâu. Giây phút cuối cùng nếu bất chợt nhó đến việc thiện hành đã từng làm, sẽ phát lực thiện nghiệp mà cảm báo đên các cảnh giối hướng thượng, được sinh làm người tử tê hoặc lên các cảnh giới thiên. Ngược lại, lúc hấp hối chợt nhớ đến ác nghiệp trong đời, sẽ dẫn đến cảm báo lực ác nghiệp mà đi đến các cảnh giới thấp, khổ cảnh, như ngã quỷ, súc sinh…

Đối với những loại ngưòi trên, sự hồi niệm trong lúc lâm chung là quan trọng trong sự chuyển nghiệp và chuyển sinh. Do vậy, nếu ai đó trong lúc lâm chung, người thân nên mòi một người nào đó am hiểu Phật Pháp, hoặc một vị sư, đến bên đầu giường họ giảng giải Phật pháp “ngắn gọn” , “dễ hiểu”, gợi nhó những điểu thiện mà ngưòi đó đã làm trong đời, sau đó niệm (đọc thầm thì rõ tiếng) chú vãng sinh Tịnh Độ Adiđà, niệm Phật, để họ nghĩ về nghiệp thiện mà mình đã làm, tự họ tạo cảm báo, tạo lực nghiệp thiện mà dẫn đến các cảnh giới hữu phúc, khỏi đoạ vào các khổ cảnh.

Việc niệm Phật, niệm Chú vãng sinh Tịnh Độ Adiđà này còn tiến hành trong vòng 12 giờ sau khi một ngưòi đã khuất. Việc làm này gọi là hộ niệm, tổ chức hộ niệm cho tâm ngưòi khuất hướng về sinh lên cõi Tịnh Độ có thể thực hiện từ bất cứ ai là thân nhân, bạn bè của họ.

Trong vòng 49 ngày, nếu ngày nào cũng hộ niệm cho người đã khuất là tốt nhất, nếu không thì tiến hành trong 1 hoặc 3 hay 7 ngày đầu.

Sở dĩ việc hộ niệm cho người vừa khuất trong phạm vi 49 ngày, vì người vừa khuất thường phải “chờ” qua 49 ngày cho đủ nhân duyên mới tái sinh (chuyển sinh), việc hộ niệm để siêu độ cho người vừa khuất có thể chuyến nghiệp ác thành nghiệp thiện, hoặc tạo ra sự cảm báo về lực nghiệp thiện mà họ đã có để hưống đến phúc cảnh như đã nói ở trên. Chính vì vậy, trong dân gian có tục đưa bát hương người đã khuất chỉ trong 49 ngày đầu lên chùa nhỏ các nhà sư hộ niệm.

Việc niệm chú Vãng sinh Tịnh Độ cũng nên thực hiện hàng ngày đối với mỗi người.

Sự luân hồi (chuyển sinh) theo độ lớn và nặng của nghiệp ác

Hậu báo nghiệp: Sau khi một người đã tạo ra nghiệp ở đời này, song một hai hoặc cả nhiều đời sống tiếp sau mới chịu quả báo. Như vậy, có người sau khi chết đi, lại chuyển sinh như vẫn đầu thai làm người tử tế, nghĩa là nghiệp chưa báo, mà có khi sau hàng trăm ngàn đòi sau mối chịu quả báo. Do vậy, nếu ai gây nghiệp bất thiện, nếu biết sám hối, có thòi gian và cơ hội hành luyện tâm tạo nghiệp thiện, giảm đi những nghiệp bất thiện sẽ được phúc lành, cũng có khi đã có nghiệp thiện lớn hiện tại, chưa hẳn đã hưởng phúc lạc của báo nghiệp trong đời hiện tại (hiện tại ở lành, chưa chắc đã gặp lành). Tuy vậy, sự luân hồi, trôi nổi của nghiệp ở mỗi ngưòi có thể rơi vào ba tình huống sau đây:

  1. Sự luân hồi (chuyển sinh) theo độ lớn và nặng của nghiệp ác hoạt nghiệp thiện. Nếu người nào đó trong cuộc sống tạo ra nghiệp thiện ác có độ nặng lớn sẽ có sự cảm báo dị thường. Những người này, lúc hấp hối sắp chết sẽ thấy:

Hoặc đến địa ngục (nếu sống làm nhiều điều ác, hoặc một việc ác nhưng rất ác

Hoặc thấy nẻo cõi [Trời hoặc người] phúc lạc hiện ra. Hoặc thấy cõi khổ xuất hiện. Tiếp theo sự nặng của nghiệp (thiện hay ác) sẽ có sinh lực dẫn dắt “ngưòi đó” (sau khi chết) đến quả báo đời sau.

  1. Theo thói quen trong cuộc sống mà tạo nghiệp Trường hợp này đối với những người có nghiệp ác hoặc nghiệp thiện ở mức độ bình thường không nặng, không nhẹ. Tuy vậy, ở họ vẫn có quá trình tích nghiệp. Trường hợp này, đến khi lâm chung, nghiệp lực theo thói quen, tự nhiên sẽ phát sinh tác dụng mà quyết định đến quả báo đời sau.

Cách nay hơn 2500 năm, có một lần, một viên tướng đến bạch (hỏi) Đức Phật Thích ca, lúc đó Ngài còn tại thế, rằng: “Tôi thường ngày luôn luôn niệm phật (niệm danh hiệu các Đức Phật khác, như Phật Adiđà, Phật Tỳ Lô Xá Na, Phật Dược Sư… đã có trước Đức Phật Thích Ca). Thê nhưng có lúc đi qua chỗ đông người, ngựa xe qua lại, phải chú ý quên đi niệm Phật. Tôi nghĩ, nếu lúc đó chẳng may bị chết đột ngột chẳng hay có bị rơi xuống địa ngục hay không?”.

Đức Phật bảo viên tướng đó rằng:

–      Không đoạ lạc! ông bình thường niệm phật đã tạo thành thói quen tốt hướng về Phật cho dù có mất đi chính niệm mà chết đi vẫn được thăng lên (ý nói lên các cảnh giới phúc lạc như làm ngưòi tử tế, cảnh giới thiên).

Chính vì vậy, các bậc tu hành, nhiều người trong dân gian vẫn dưỡng thành thói quen tạo ra nghiệp thiện để đến lúc lâm

TỤC TỤNG KINH NIỆM PHẬT TRONG DÂN GIAN

Thần tài về đã ở nguyên trong nhà. Do vậy, đón năm mới, có quét dọn sắp xếp đồ vật trong nhà, nên làm đến 11 giò đêm 30 tháng Chạp.

Đón năm mới, dân gian còn có tục tắm nước lá Bưởi, lá Quýt, cây Mùi (có quả) để khử những ám khí, những điều xui xẻo của năm cũ ra ngoài ra cơ thể để bước vào năm mới. Trẻ nhỏ thì tắm và gội đầu bằng nước đun cuống dưa hoặc lá dưa. Họ cho rằng, làm như vậy là tăng thêm sức khoẻ của trẻ trong năm mới. Một cuốn sách cổ Trung Hoa có viết;

“Canh tư ngày Mồng Một (từ 5-7 giờ sáng), lấy cuộng dưa đun làm thang tắm cho trẻ em thì suốt năm không bị bệnh đậu hay mụn nhọt ”

Dân gian xưa, ngày Nguyên đán còn treo cành đào (đào phù) có tuổi từ 3 năm trở lên ỏ cửa ra vào, cũng dùng để trấn trạch , trừ tà. Tục này ngày nay không còn.

TỤC TỤNG KINH NIỆM PHẬT TRONG DÂN GIAN

Theo Phật giáo, con người trôi nổi trong vòng sinh tỏ là do nghiệp (“tài sản” thiện ác của mỗi người) . Nếu ai đó muôn thoát khỏi vòng sinh tử bất tận này phải bạt nghiệp đê đi đến xoá hết nghiệp của mình.

Nghiệp là cái mà bất cứ ai trên đời này đều có. Nghiệp của mỗi người có do hành vi, suy nghĩ, ý đồ của bản thân mình trong suốt cả cuộc đời, nghiệp của mỗi người không bao giờ mất, nó, tích tụ truyền đi mãi mãi theo dòng chuyển sinh của chính mình.

Nguyên tắc hình thành nghiệp của mỗi người là: Gieo gì “gặt ” nấy Ai gieo, người đó “gặt ”

Đã gieo phải “gặt ”

Gieo một “gặt ” gấp bội.

Nếu gieo nghiệp thiện thì được quả báo thiện, lành, gieo nghiệp ác phải quả báo ác, hung. Thời gian từ khi tạo nghiệp đến khi chịu quả báo chia thành ba thời: hiện báo nghiệp, sinh báo nghiệp và hậu báo nghiệp.

Hiên báo nghiệp: là nghiệp tạo ra trong cả đời sống của một người, như những hành động thiện, hành động ác, tham, luôn luôn đòi hỏi và chiếm đoạt những cái vượt quá mức quyền được hưởng của bản thân, suy nghĩ điều thiện hoặc nghĩ điều ác, những dự định hiểm độc… Những nghiệp đó chịu quả báo ngay trong kiếp sống này.

Sinh báo nghiệp: kết quả sinh ở cảnh giới nào cuộc sống phúc lạc, hay khổ ra sao, sau khi chết đi (Phật giáo gọi là Vãng sinh hay chuyên sinh) chuyển sinh thì chịu quả báo như thế.

Cảnh giới: Theo Phật Giáo có 3 loại Cảnh giới, đó là: cảnh giới hữu phúc gồm cảnh giới làm người và cảnh giới làm chư thiên (trời); cảnh giới khô bao gồm: làm súc sinh, làm ngã quỷ, ở nơi địa ngục, làm Atula.

TỤC ĐÓN NĂM MỚI TIỄN NĂM CŨ

[hạnh phúc]. Con người biết đủ dẫu nằm trên đất vẫn là yên vui, kẻ không biết đủ dẫu ở thiên đường cũng không xứng ý. Không biết đủ, dù giầu vẫn là nghèo, con người biết đủ dù nghèo vẫn như giàu…”

Như vậy hạnh phúc của mỗi ngưòi do chính mình tạo nên và do chính sự nhận thức về bản thân mình, điều mà Lão Tử, nhà tư tưởng vĩ đại Trung Hoa cổ nói: “Tri nhân giả trí, tự tri giả minh ” (hiểu người là bậc trí, còn tự hiểu mình mới là sáng).

TỤC ĐÓN NĂM MỚI TIỄN NĂM CŨ

Người Việt Nam xưa rất coi trọng việc đón năm mới. Mỗi khi năm mới sắp đến, họ rất bận rộn đón năm mới, tiễn năm cũ.

Theo phong tục truyền thống, người xưa tiễn năm cũ bằng cách mua lá Hoàng bì, lá Bưởi, lá Quýt, đem nấu nước dùng để lau sàn nhà, cột nhà và các đồ vật. Dân gian cho rằng làm như vậy sẽ trừ được ám khí của năm cũ, trừ những cái bất lợi của năm qua như những điều khẩu thiệt, thị phi, đặc biệt đối vói những nhà năm qua vừa có tang.

Cái lý của tập tục trên, được danh y Lý Thời Trân thời nhà Minh Trung Hoa cổ đại ghi trong sách Bản thảo cương mục. Theo ông, ba thứ lá Hoàng bì, lá Quýt, lá Bưỏi có tác dụng trừ tà, thanh lọc khí cũ đã hôi ám. Nhưng trong sách lại nhấn mạnh đến công dụng của cành hoa Đào trừ khí cũ, đón vượng khí và cát khí mói. Lý Thòi Trân viết: “…Đào lá cây ở phương Tây, là tinh tuý của Ngũ mộc [Năm tính Mộc, đặc trưng của cây cối], nó là cây nghiêng (trắc mộc), có vị khí ác (độc, như vị đắng), cho nên hay áp phục được tà khí, chế ngự được trăm thứ quỷ, người đòi xưa hay dùng đặt [hoa đào] trên cửa để làm bùa trấn yểm là như vậy.”

Từ ý tưởng trên mà Lý Thòi Trân nêu ra, trong dân ểian khi năm mới về, bao giò trong nhà cũng cắm một cành đào, nhưng phải có tuổi từ 3 năm trở lên mói có công hiệu “trừ tà”.

Đón năm mới, người xưa còn kiêng không quét nhà, cho dù lúc đó có nhiều rác bẩn. Dân gian cho rằng, năm mới vừa đến (tức là từ 11 giờ đêm ngày 30 tháng Chạp đến ngày Mồng một, mồng 2, mồng 3 Tết) nếu quét nhà là “hất “ Thần Tài” ra ngoài. Song vì căn nhà quá bẩn, không kịp dọn, cần phải quét nhà vào ngày đầu năm, phải quét hất vào trong nhà, vun rác thành đống, về điều này sách Đường Thư có viết: “Củng tảo khứ như nguyên ” , nghĩa là, đầu năm mới, trong nhà có cái gì kể cả rác bẩn, để như nguyên chỗ cũ. Điều đó tượng trưng ông

Sự xung hợp của người Hợi

Gặp năm Sửu: mọi việc và kinh doanh thuận lợi, không nên đưa ra và thực hiện các ý tưởng lớn, xuất hiện hao tài song được hoá giải.

Gặp năm Dần: mọi việc khó khăn, tài lộc mờ nhạt, có chuỵện phải đến cửa quan, xuất hiện việc ngoài dự kiến.

Gặp năm Mão: có dấu hiệu thăng quan tiến chức, có tài lộc, đề phòng người ngăn trở và phá, nên tránh kiện tụng.

Gặp năm Thìn: gặp nhiều chuyện vui, đề phòng bệnh tật và hao tài vì xuất hiện các chuyện tình cảm.

Gặp năm Tỵ: mọi việc khó khăn và vất vả nơi đất khách quê người, có sự chuyển hướng về sự nghiệp, đề phòng hao tài tốn của.

Gặp năm Ngọ: có tài lộc, kinh doanh thuận lợi, gặp khó khăn được cứu giải, không nên đi xa.

Gặp năm Mùi: có sự thăng tiến và đạt quyền lực, không nên mưu sự lớn, không nên đi xa.

Gặp năm Thân’, mọi việc không thuận, kinh doanh không như ý, đề phòng chuyện thị phi và có thể có chuyện tang.

Gặp năm Dậu: không an bình, đề phòng kiện tụng, hao tài lộc, đưòng lợi lộc không hanh thông .

Gặp năm Tuất: vận mệnh thăng trầm lúc lên lúc xuống, mọi việc không như ý, một năm vất vả.

Gặp năm Hợi: sự nghiệp bất ổn, không lợi trong giao kết bạn bè, có nhiều người ngáng trở, thân nhân có thể có người gặp hoạ.

  1. Sự xung hợp của người Hợi
  2. Năm kỵ: nam kỵ năm Ngọ, nữ kỵ năm Thìn (không nên cưới gả).
  3. Tuổi hợp và kỵ

Tuổi Hợi hợp tuổi Dần, kỵ tuổi Tỵ.

Ât Hợi hợp tuổi Canh, kỵ tuổi Tân. Đinh Hợi hợp tuổi Nhâm, kỵ tuổi Quý. Kỷ Hợi hợp tuổi Giáp, kỵ tuổi Ât. Tân Hợi hợp tuổi Bính, kỵ tuổi Đinh. Quý Hợi hợp tuổi Mậu, kỵ tuổi Kỷ.

  1. Tuổi khắc phá: Ât Hợi phá Kỷ. Đinh Hợi phá Tân. Kỷ Hợi phá Quý. Tân Hợi phá Ât. Quý Hợi phá Đinh.

Trên đây là tục xem tuổi theo năm, tháng, giờ lịch Âm (lịch Can Chi tiết khí) của cổ nhân, vấn đề nghiệm hay chưa nghiệm còn phải bàn. về vấn đề này, người xưa thường nói: “Chuyện sống chết là chuyện của Trời Đất, Phúc và Hoạ là chuyện của Thần Linh ”, nghĩa là sưóng, khổ, sống chết… là điều con người không thể biết trước được. Theo cổ nhân, cái mà con người cần làm là phải hành động và sống sao có nhân, có đức thì sẽ hoá giải mọi khó khăn, tạo lập hạnh phúc riêng cho mình, điều mà ngưòi xưa nói: “Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân ” (Trời Đất không phụ người nhân đức) là vậy.

Xưa, Đức Phật Thích Ca, trong di giáo cuối cùng của Ngài, có điều nói: “Nếu muốn thoát khỏi mọi sự phiền não, nên phải xem phép “biết đủ” tức là cái chỗ vui vẻ, yên ổn

Nhịp sinh học của người tuổi Hợi

  • Sinh giờ Tỵ: dịch mã tại mệnh nên phát nhanh và mạnh, công việc đại thành song bại vong cũng nhanh, về già bình thường.
  • Sinh giờ Ngọ: sự nghiệp dễ thành, có cảnh vui. Tài lợi như nhau. Danh vượng thì tài suy.
  • Sinh giờ Mùi: người thông minh, nhiều trí nhưng sô” phá tài. Cuộc đòi nhiều biến cô”, khó tránh nạn trời.
  • Sinh giờ Thân’, đa mưu nhiều kế, nhiều nghề, năng động, dễ đỗ đầu, gặp khẩu thiệt, danh tiếng vang xa.
  • Sinh giờ Dậu: mệnh lớn nhưng hình tướng và nhân tâm khắc nhau. Thường gặp hao tài phá toái. Mọi sự không theo ý muốn.
  • Sinh giờ Tuât: cố nhiều bệnh, nhưng luôn luôn có niềm vui, làm mọi việc chỉ có một mình.
  • Sinh giờ Hợi: sự nghiệp thăng trầm, bất định, quan hệ rộng nhưng hay bị phản, bản thân dễ bị tàn hại.
  1. Ý nghĩa tháng sinh theo cổ nhân
  • Sinh tháng Giêng: thông minh, hiền lành, năng động, lợi lộc hanh thông, danh lợi vẹn toàn , hưồng phúc trời.
  • Sinh tháng Hai: thông minh chuyên quyền, có thể thành đạt lớn, gia phong phát đạt.
  • Sinh tháng Ba: khí chất kiên cường, dồi dào sức khoẻ, sống hoà hợp.
  • Sinh tháng Tư: có chức quyền, thông minh năng động, sự nghiệp hanh thông, vận mệnh an bình.
  • Sinh tháng Năm: có tài năng song không có quyền lực. Có năng khiếu vể văn học nghệ thuật. Cả đời an bình, hưởng phúc về già.
  • Sinh tháng Sáu: sống thụ động, thiếu quyết đoán, mọi sự không thành, phúc hoạ khó tránh, thăng trầm bất định.
  • Sinh tháng Bảy: đời sống vật chất dư dật, mọi việc hanh thông, gia phong phát triển.
  • Sinh tháng Tám: có quyền uy, có khả năng ỏ vị trí lãnh đạo, sự nghiềp thành công.
  • Sinh tháng Chín: đời sống vật chất dư dật, hưởng lộc tròi ban, phong lưu thảnh thơi.
  • Sinh tháng Mười: xuất thân hàn vi nhưng phú quý, sự nghiệp thành công, hưởng phúc trời ban, về già hưng vượng.
  • Sinh tháng Một: đời sống vật chất dư dật, danh lợi vẹn toàn, hưởng phúc trời cho.
  • Sinh tháng Chạp: không quyền lực, cũng hưởng phúc trời ban. Dữ nhiều lành ít, phải phòng hoạ cả toong lẫn ngoài.
  1. Nhịp sinh học của người tuổi Hợi
  • Người tuổi Ât Hợi: thiếu thời nhiều tai ách, từ trung niên trở đi lộc hưng thịnh. Vận phát về già. Vợ chồng hạnh phúc.
  • Người tuổi Đinh Hợi: thông minh, năng động, tự lập, tài lộc muộn nhưng vượng.
  • Người tuổi Kỷ Hợi’, đời sống vật chất đầy đủ. Vợ chồng hoà thuận, riêng nữ phát về già.
  • Người tuổi Tân Hợi: sống bình an, thời trẻ tài lộc không tụ. Lương duyên gặp được lúc về già. Nữ mạng hạnh phúc.
  • Người tuổi Quý Hợi: người tự thân lập nghiệp, tài vận như ý, hưng thịnh khi về già. Nữ giới hưởng phúc dày và sống lâu.
  1. Người tuổi Hợi qua các năm

Gặp năm Tý: cầu lợi và kinh doanh khó khăn, gặp chuyện tình cảm và gặp nhiều khó khăn.