Lưu trữ hàng tháng: Tháng Mười Một 2015

Một số gương mặt cán bộ nữ ngành xây dựng – Phần 1

Nguyễn Thị Tám – Phó trưởng ban nữ công công đoàn cơ quan Bộ
Chị đã từng đảm nhiệm rất nhiều trọng trách từ trưởng phòng, quản đốc phân xưởng rồi đến Phó giám đốc xí nghiệp cơ khí, Xí nghiệp gạch ngói sành sứ và Nhà máy gạch lát má phanh Hà Nội thuộc Tổng công ty thủy tinh và gốm xây dựng trước đây. Chị đã trưởng thành từ những hoạt động đoàn thể của các đơn vị sản xuất. Với tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình chị luôn hoàn thành xuất sắc công việc được giao. Khi được hỏi: Làm thế nào mà chị kết hợp hài hòa công việc gia đình với công việc chuyên môn? Chị cho biết: “Chủ yếu mình phải biết sắp xếp hợp lý. Là người phụ nữ thì điều quan trọng nhất phải quan tâm là việc giáo dục con cái. Ngoài thời gian dành cho công việc, phần lớn tôi dành cho các con”. Ba con của chị đều đã khôn lớn trưởng thành, cháu út đang học lớp 10 cũng luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi.
Với cương vị Phó trưởng ban nữ công công đoàn cơ quan Bộ, Trưởng ban nữ công khối cục, vụ và phụ trách tài chính của công đoàn cơ quan, chị tham gia tổ chức tốt các phong trào thi đua, vận động chị em vào mọi hoạt động của cơ quan. Những đóng góp của chị thật xứng đáng với tấm Huy chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trao tặng (năm 1997), Huy chương sự nghiệp xây dựng do Bộ xây dựng trao tặng, bằng khen về thành tích lao động xuất sắc của Bộ và bằng khen của công đoàn ngành về thành tích công tác.
Vũ Thị Hòa – Phó vụ trưởng Vụ Tài chính kế toán (Bộ xây dựng)
Công tác trong ngành xây dựng ngay sau khi tốt nghiệp Đại học Tài chính kế toán với cương vị là cán bộ theo dõi công tác cải tiến quản lý tài chính kế toán ở các công ty xây dựng thuộc địa bàn tỉnh Hà Nam Ninh cũ và thành phố Hà Nội. Chuyên ngành kế toán xây dựng cơ bản đã giúp ích cho chị rất nhiều khi tham gia công tác trong ngành xây dựng. Tuy thuộc quân số của Bộ tài chính, nhưng chị được gắn bó với công nhân xây dựng nhiều nhất. Vì thế những chính sách, chế độ dành cho công nhân luôn được chị quan tâm. Khi Bộ tài chính có những cải tiến mới về chính sách, Ban cải tiến quản lý tài chính kế toán ở các công ty xây dựng của chị đã cùng các đơn vị thực hiện rất nghiêm túc.
Năm 1981, chị Hòa chuyển về Vụ tài chính – Kế toán Bộ xây dựng theo dõi đầu tư xây dựng cơ bản, hai năm sau chị chuyển sang làm công tác chế độ chính sách. Đây cũng là điều kiện để chị nâng cao năng lực chuyên môn. Mọi công việc được giao chị đều hoàn thành, trong lúc thực hiện, chị có những xử lý sáng tạo. Tuy nhiên, với chị không bao giờ được làm trái nguyên tắc bởi lẽ nghề quản lý tiền bạc của nhà nước không cho phép người cán bộ được mất đi chữ tâm, chữ đức. “Phải vì công việc chung chứ không trục lợi cá nhân” – đó là tâm niệm của chị.
Chị Hòa cho rằng: Nữ giới sẽ chứng tỏ không chịu thua kém nam giới nếu muốn nâng cao nghiệp vụ. Ngoài thiên chức làm vợ, làm mẹ, chị em có đủ khả năng tham gia vào hoạt động xã hội.
Ngô Hữu Đoàn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 30 -1998

Tam nông và công nghiệp hóa

Tam nông là NÔNG D N, NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN. Theo đường lối của Đảng công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước trước hết là ưu tiên cho nông nghiệp, mặt trận hàng đầu. Một thập kỷ qua, nhờ đổi mới mà sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, tăng trưởng cao, đạt tốc độ bình quân 4,3%. Năm 1997 so với 1987 sản lượng lương thực tăng 1,8 lần (mỗi năm tăng 80 vạn – 1 triệu tấn), chè tăng 1,8 lần, cà phê tăng 20 lần, cao su tăng 3,5 lần; trâu bò tăng 1,2 lần; lợn tăng 1,5 lần; gia cầm tăng 1,7 lần và trồng được 1,67 triệu ha rừng tập trung, hàng nghìn triệu cây phân tán. Thành tựu nổi bật là từ một nước rất thiếu lương thực, phải nhập khẩu đã vươn lên thành một quốc gia hàng đầu về an ninh lương thực, xuất khẩu lớn (4 triệu tấn năm 1998), chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nhờ vậy đời sống nông dân tăng 1,5 lần, có nơi tăng 2 – 3 lần và bộ mặt nông dân khác trước nhiều về ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh…
Tuy nhiên, nông nghiệp hiện nay trên nhiều mặt còn khó khăn cần được chú trọng. Đó là quan hệ sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới, luật Hợp tác xã chưa được áp dụng rộng rãi, diện tích canh tác thu hẹp dần (bình quân 6800 mét vuông/ hộ) dân số vẫn còn tăng cao, 30 triệu lao động mới sử dụng 70% quỹ thời gian, hàng triệu người thất nghiệp, công trình thủy lợi mới khai thác 65% công suất, trình độ nghề nghiệp của nông dân rất thấp kém, lao động thủ công và thửa ruộng, manh mún là chủ yếu, cơ giới hóa làm đất chỉ được ¼ diện tích. Thực trạng này đang kìm hãm và tụt hậu, tốc độ tăng trưởng có chiều hướng chững lại mà nguyên nhân chủ yếu là chưa được nhà nước đầu tư mạnh và tập trung. Trong thực tiễn, kinh tế nông nghiệp ít phụ thuộc và chịu ảnh hưởng bên ngoài, nếu được đầu tư lớn sẽ cho giá trị tăng cao. Công nghiệp hóa nông nghiệp trong thời gian tới phải làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch nhanh theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ (hiện nay mới chiếm 30%) và phát triển cây công nghiệp và chăn nuôi, mở rộng chế biến nông sản, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn (đường, trường, trạm, điện, nước sạch sinh hoạt, điện thoại…). Bên cạnh vai trò chủ đạo của quốc doanh phải duy trì kinh tế hợp tác, tư nhân và tiểu chủ (trang trại) một cách đúng hướng. Có như vậy, nông nghiệp mới là cơ sở để phát triển công nghiệp và giữ vững ổn định Kinh tế – Xã hội ở nước ta.
Nông nghiệp phát triển, Nông thôn đổi mới, Nông dân có đời sống khá. Đó là mục tiêu của Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nước ta.
Xây dựng – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 30 -1998

Yên Bái “xây dựng nhà máy nghiền đá vôi”

Ngày 4 tháng 10 năm 1998 tại huyện Trần Yên, tỉnh Yên Bái, Công ty khoáng sản Yên Bái liên doanh với Công ty Ban Pu (Thái Lan) đã tổ chức lễ khởi công xây dựng Nhà máy nghiền đá vôi chất lượng cao gồm 2 dây chuyền nghiền thô và nghiền tinh tráng phủ với tổng công suất 320 nghìn tấn/ năm với số vốn đầu tư 5 triệu USD. Khi Nhà máy đi vào sản xuất sẽ chế biến ra sản phẩm các – bon – nat can – xi đang cục, đang hạt và bột đặc biệt để cung cấp cho thị trường trong nước và chủ yếu là xuất khẩu.
Đơn vị trúng thầu xây lắp trọn gói là Công ty lắp máy và xây dựng số 3 từ Việt Trì lên. Được hỏi khi nhận hợp đồng thi công một Nhà máy trong thời gian rất ngắn (chưa đầy 80 ngày) đã phải hàn giao một dây chuyền, liệu đơn vị có bảo đảm được tiến độ và chất lượng? Giám đốc Công ty Nguyễn Khắc Chiêm cả quyết: Với truyền thống 37 năm trong nghề Công ty lắp máy 3 đã hoàn thành lắp đặt thiết bị cho các Nhà máy lớn trong vùng như: Tuyển quặng Apatit Lao Kay, thủy điện Thác Bà, Nhà máy giấy Bãi Bằng, Suppe phốt phát Lâm Thao v.v… thì việc cam kết hoàn thành xây dựng đưa dây chuyền nghiền thô của Nhà máy nghiền đá vôi Ban Pu vào sản xuất tháng 12/ 98 này sẽ được thực hiện đúng tiến độ và đạt chất lượng kỹ thuật cao.
Bút Sơn
Anh về với Bứt Sơn
Đánh thức vùng núi đá
Đường lên dốc Cổng trời
Gió như quen như lạ.
Xa xa màu núi tím
Có phải dãy Đồng Ao?
Hàng tỷ mét khối đá
Hình thành như thủa nào?
Vào mỏ sét Khả Phong
Nơi địa đầu của gió
Thiên nhiên ưu đãi ta
Kho tài nguyên vô giá
Đường lên mỏ Hồng Sơn
Tầng tầng ta đã mở
Xưa kia là núi đỏ
Cho bây giờ đá xanh.
Tiếng mìn nổ ùng oành
Đá cựa mình thức giấc
Theo chân người khai thác
Về nhà máy xốn xang.
Khu sản xuất liên hoàn lớn nhanh như Thánh Giống
Những tòa ngang dãy dọc
Vươn cao giữa đất trời
Đây tháp trao đổi nhiệt
Sừng sững bên lò nung
Hệ băng tải riêng biệt
Trườn mình trên không trung
Một dãy tháp “xi – lô”
No tròn cao như núi
Những cây bút khổng lồ
Khai nền văn minh mới
Khói trắng giữa trời mây
Đem bao niềm mơ ước
Xi măng đỏ lửa rồi
Giữa Hà Nam thân thiết.
Lê Nguyên Tất – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 29 -1998

Trường đại học mỹ thuật công nghiệp

Nhận thức thẩm mỹ của sinh viên ngày càng cao
Ngày 28 – 9 – 1998 trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp đã khai mạc triển lãm bài tốt nghiệp của sinh viên hệ đại học 5 năm và hệ đại học 6 năm. Trong quá trình giảng dạy, trường đã không ngừng nâng cao sự hiểu biết về thẩm mỹ cho sinh viên. Thành tựu đạt được trong hai khóa học qua là những đề tài tốt nghiệp đạt loại khá giỏi chiếm tối đa thuộc các hệ đại học, cao đẳng, tại chức… Có những đề tài mang sắc thái dân tộc miền núi như “Bảo tàng văn hóa Chàm – Trà Kiệu” của Phạm Ngọc Dũng, hay phong cách hiện đại đầy sáng tạo trong đề tài: “Câu lạc bộ thể thao” do Vương Quốc Tuấn thể hiện, đề tài mang tính bức xúc của xã hội như: “Khu vui chơi lầu vũ trụ – công viên tuổi thơ Hạ Long” của Bùi Hoài Thảo…
Bên cạnh việc trưng bày những đồ án tốt nghiệp đạt loại khá giỏi, nhà trường đã tổ chức thành công buổi trình diễn thời trang do các em sinh viên tạo mẫu và đã gây được sự bất ngờ cho người xem.
Qua cuộc triển lãm trên ta thấy mức độ nhận thức thẩm mỹ của sinh viên ngày càng cao và phong phú, bắt kịp được nhu cầu của cơ chế thị trường, theo định hướng đem cái đẹp đến từng sản phẩm, đáp ứng kịp thời cho người tiêu dùng.
Ý thức… quá lầy
Nhà ông thông thoáng cao to
Nước thải ông cứ việc “cho” ra đường?
Bất cần hàng xóm, phố phường
Ngang nhiên làm bẩn môi trường, cảnh quan
Người, xe sớm tối dọc ngang
Trượt chân, té ngã, oán than bao lời
Hư xe, rách áo bao người!
Sưng đầu bao lượt, vẹo đùi bao phen!
Mặc ai bổ ngửa bổ nghiêng
Nước thải ông cứ triền miên đổ nhào?
Nhà ông đất thoáng, nền cao
Thế mà ý thức ông sao quá lầy?
Thời trang
Vào khoảng năm 2050, một buổi chiều, một người máy bước vào một cửa hàng bán vật liệu xây dựng và nói:
Hãy bán cho tôi 2 mét tôn sóng màu xanh!
Thưa ông lợp gì? – chủ hàng hỏi.
Không, tôi muốn sắm cho vợ tôi cái váy mới!
??!!
Thu Vân – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 29 -1998

Giảm gánh nặng ngân sách quốc gia bằng kế hoạch sử dụng vốn hợp lý

Năm 1998, tổng vốn đầu tư toàn xã hội thấp hơn so với năm 1997 khoảng 90.000 tỷ đồng. Trong đó vốn đầu tư trong nước tăng chậm; vốn ngoài quốc doanh và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng giảm mạnh. Trước tình trạng này, nếu không sớm khắc phục căn bệnh kinh niên là đầu tư tràn lan, dàn trải và phải có kế hoạch sử dụng vốn hợp lý, chắc chắn sẽ gây sức ép căng thẳng cho Ngân sách nhà nước trong những năm sau.
Có thể hình dung bức tranh toàn cảnh nguồn vốn đầu tư qua các con số sau: tỷ trọng nguồn vốn nhà nước chưa đạt 50% trong tổng vốn đầu tư xã hội; nguồn vốn đầu tư ngoài quốc doanh giảm từ 30,8% (năm 1995) xuống còn 16,2% (năm 1997; tỷ trọng vốn FDI (Đầu tư trực tiếp nước ngoài) giảm thấp so với các năm 1995 – 1997.
Trong bối cảnh đó, việc giao kế hoạch cho vay hàng năm tới nguồn tín dụng đầu tư ưu đĩa lại chưa xác định được nguồn vốn chắc chắn. Đối tượng được đầu tư bằng vốn tìn dụng ưu đãi mở ra quá rộng dẫn tới thiếu vốn tập trung cho những chương trình, mục tiêu, dự án cần khuyến khích. Thiếu vốn, nhưng lại có sự tách rời giữa nguồn trong nước và nguồn vốn ODA, nên nhiều dự án sử dụng ODA không được bố trí đủ mức vốn đối ứng theo quy định. Việc này ảnh hưởng rất nhiều đến tiến độ giải ngân, lãng phí nguồn thu hồi nợ vốn ODA chưa tới hạn trả nợ cho nước ngoài vì chưa đó là nguồn vốn có thể huy đọng cho vay.
Bên cạnh những khó khăn về nguồn vốn thì cơ cấu vốn đầu tư theo ngành, vùng kinh tế cũng mất cân đối. Theo Tổng cục Đầu tư – Phát triển: vốn đầu tư phân bổ cho các ngành sản xuất trong suốt thời kỳ 1986 – 1987 chiếm tỷ trọng thấp, chưa năm nào đạt 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Những ngành sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm quốc nội (GDP)’ chưa được đầu tư đủ, hạn chế tốc độ tăng trưởng GDP. Tỷ trọng vốn đầu tư cho giao thông không lớn, bình quân hàng năm chưa đến 8% và với tỷ trọng này, chắc chắn còn lẩu nước ta mới có hệ thống giao thông bảo đảm phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ cao. Trong khi đó, các ngành dịch vụ và không sản xuất hàng năm chiếm tới 50% vốn đầu tư toàn xã hội. Việc phân bố vốn đầu tư cho các ngành dịch vụ và không sản xuất cũng chưa thật sự hợp lý: cho các vùng Đông Bắc, và đặc biệt là Tây Bắc, Tây Nguyên chiếm tỷ trọng thấp (Tây Bắc dưới 3%; Tây Nguyên dưới 5%) trong khi những vùng này đang cần đầu tư để khai thác tiềm năng phong phú.
Bức tranh toàn cảnh về nguồn vốn đầu tư, cơ cấu đầu tư trên đầu cùng với những điểm được và chưa được cho thấy chúng ta cần nhanh chóng tổ chức thực hiện Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; đồng thời phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách, cơ chế đầu tư thích hợp phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Tạo lập cơ cấu vốn đầu tư hợp lý: tỷ trọng vốn đầu tư trong nước trên 50%, trong đó tỷ trọng vốn đầu tư của Ngân sách nhà nước không ít hơn 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đồng thời, xây dựng cơ chế quản lý đầu tư hợp lý, thực hiện nghiêm chủ trương đình hoãn hoặc giãn tiến độ những công trình xét thấy chưa cần thiết, các thiết bị đắt tiền (như thang máy), dành vốn cho các công trình trọng điểm.
Nhu cầu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 1999 – 2000 ước tới 201.000 tỷ đồng. Đó là một khoản tiền khổng lồ. Vì vậy cần sớm xác định một chiến lược về huy động và quản lý đồng vốn. Coi vốn Ngân sách nhà nước vừa tham gia trực tiếp, vừa hỗ trợ, vừa làm “mồi” để thu hút các nguồn vốn khác đầu tư vào phát triển sản xuất – kinh doanh. Việc sử dụng nguồn vốn này phải trên quan điểm mang tính định hướng cho toàn bộ nền kinh tế, mà các thành phần kinh tế khác không đủ năng lực đầu tư, hoặc đầu tư không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời phát huy tối đa nguồn vốn nhàn rỗi hoặc đang sử dụng kém hiệu quả trong xã hội. Những công trình có lợi nhuận và lợi nhuận cao nên đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng thương mại, hoặc phát hành trái phiếu công trình, không đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Việc vay vốn ODA cho phát triển cần được tính toán cẩn thận. Mặc dù, về hình thức đây là nguồn vốn có nhiều ưu đãi so với vay thương mại, nhất là trong khi đất nước còn rất thiếu vốn. Tuy nhiên, để đảm bảo giải ngân nguồn vốn đối ứng trong nước, những điều kiện ràng buộc từ phía các nhà cho vay nước ngoài về đền bù, giải phóng mặt bằng, đấu thầu…
Như vậy rất nhiều yêu cầu được đặt ra đối với các dự án đầu tư trong năm 1998 – 2000 và các năm tiếp theo. Vấn đề không chỉ khu biệt ở cơ cấu đầu tư, nguồn vốn đầu tư mà là trên bình diện rộng bao gồm nhiều mặt quản lý để phát huy tích cực, hiệu quả của công trình góp phần làm tăng tốc độ phát triển sản xuất – kinh doanh và ý nghĩa xã hội. Đồng thời để chống thất thoát, lãng phí nguồn phí đầu tư Xây dựng cơ bản, các đầu mối cho vay cần chủ động xác định cho vay từ trước năm kế hoạch để bảo đảm cho các dự án được thực thi sớm và hiệu quả, trả được nợ. Các dự án mới phải được bố trí đủ vốn pháp định theo quy định, các dự án đầu tư mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu phải có khoản vốn tự có cần thiết theo một tỷ lệ bắt buộc để tránh dựa hoàn toàn vào bao cấp của Nhà nước. Hơn bao giờ hết, việc chia sẻ gánh nặng với ngân sách quốc gia cần những nhà quản lý có tài và có tâm, đồng hành với đó là việc bắt buộc phải chuẩn bị kỹ lưỡng các yếu tố cần và đủ cho dự án tiền khả thi.
Thanh Nhàn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 29 -1998

Hội thảo giao lưu kiến trúc năm 1998 tại Quảng Ninh

Từ ngày 23 – 9 – 1998 tại thành phố Hạ Long, Quảng Ninh đã diễn ra cuộc giao lưu và hội thảo kiến trúc của các Hội Kiến trúc sư Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định. Vấn đề kiến trúc, hành nghề kiến trúc, lương tâm trách nhiệm của các Kiến trúc sư đối với nghề của mình, những khó khăn thuận lợi trong việc hành nghề của Kiến trúc sư tại các địa phương là những vấn đề được đặt ra và quan tâm. Tại hội thảo, các Kiến trúc sư cũng đưa ra một phương châm là thiết kế làm sao để có được bản sắc dân tộc mà vẫn theo kịp thời đại,và có những kiến nghị mới với các nhà quản lý về công tác quản lý kiến trúc.
Cuộc sinh hoạt nghề nghiệp được sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh và các ban ngành trong Tỉnh, lãnh đạo Hội kiến trúc sư Việt Nam, toàn thể hội viên và các Kiến trúc sư đang hành nghề tại Quảng Ninh đã đến dự.
Lễ khai trương trung tâm trưng bày sản phẩm bể bơi JEAN DESJOYAOX: đã được tiến hành ngày 2 – 10 – 1998, tại Hà Nội. Đây là kết quả sự hợp tác giữa Tổng công ty VINACONEX với hãng JEAN DESJOYUX – FRANCE. Với 25 năm kinh nghiệm cùng tay nghề độc đáo (Xây dựng trong 7 ngày, bảo hành 10 năm) của những nhà xây cất, lại rất chú trọng tới nhu cầu của thị trường, JEAN DESJOYAOX – FRANCE hiện đã hoàn chỉnh được hai phương pháp kỹ thuật có tính chất cách mạng trong ngành xây cất hồ bơi đó là hệ thống lọc và cấu trúc khuôn đúc. Cũng trong buổi lễ, Công ty phát triển Công nghệ và Thương mại Quốc tế quyết định trao tặng 1 bể bơi hoàn chỉnh cho một đơn vị nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thuộc thành phố Hà Nội.
Thủ tướng Chính phủ vừa cho phép:Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được bán biệt thự thuộc sở hữu nhà nước (trừ các biệt thự không được bán do Thành phố quy định). Việc bán biệt thự được ưu tiên cho những người đang ở thuê hợp pháp có nhu cầu mua lại.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 29 -1998

Một số bộ vi xử lý thông dụng hiện nay

Pentium là bộ vi xử lý 32 bit do Intel chế tạo và được giới thiệu vào tháng 5 năm 1993. Pentium tương đương 3,1 triệu transistor, phiên bản đầu tiên chạy ở tốc độ 60 MHz và có thể xử lý khoảng 112 triệu lệnh mỗi giây (MIPS). Các phiên bản kế tiếp chạy ở 66 MHz, 90 MHz, 100 MHz, 120 MHz, 150 MHz và hiện nay là 200 MHz.
Pentium Pro là bộ xử lý thuộc thế hệ tiếp sau của Pentium mà có nhiều người gọi là Intel P6. Được đưa vào sử dụng cuối năm 1995 với số lượng chưa nhiều nhưng P6 đã sớm được hoan nghênh với kiểu thiết kế đổi mới và tốc độ xử lý nhanh của nó. Tương đương 5,5 triệu transistor, P6 đã sớm được hoan nghênh với kiểu thiết kế đổi mới và tốc độ xử lý nhanh của nó. Tương đương 5,5 triệu transistor, P6 ban đầu chạy với tốc độ 133 MHz, vào giữa năm 1996 đã lên 180 và 200 MHz và biến hiện nay đang là bộ vi xử lý Pentium II với 75 triệu Transistor chạy với tốc độ 233 và 266 MHz.
AMDK 5 là loại vi xử lý của hãng AMD tương thích với Pentium của Intel. K5 tương đương với 3,5 triệu trasistor, chế tạo bằng công nghệ 0,5 micron chạy với tốc độ 100 và 120 MHz. Bằng cách cải tiến một số công nghệ chế tạo, K5 có thể thực hiện mọi lệnh của Pentium, lại có tốc độ nhanh hơn 30% ở cùng tốc độ.
Các bộ vi xử lý có nhiều dòng, nhiều kiểu, nhiều thế hệ như vậy, nhưng nói chung đều có xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn: tốc độ cao hơn, độ tin cậy tốt hơn, với giá rẻ hơn. Còn về phần bạn, những người sử dụng, nên chọn loại nào đây? Có lẽ khôn ngoan nhất là cân nhắc theo yêu cầu công việc, theo các phần mềm sẵn có hoặc có thể kiếm được, và nhất là tùy theo túi tiền. Dĩ nhiên không quên dự trữ cho những yêu cầu cao hơn trong tương lai.
Tỉnh Gia Lai: cũng vừa khánh thành 3 cầu Lê Bắc, Ake, Xang Trung trên quốc lộ 25 và tỉnh lộ 674.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 28 -1998

Hãy trả nhà cho thiếu nhi

Mãi đến tháng 10 – 1994 các cháu thiếu nhi thị xã Sơn Tây (Hà Tây) mới có nơi sinh hoạt (mặc dù chỉ là nhà tạm) gồm 1 hội trường và 2 phòng hóa trang cùng 1 hộ loa đài, 3 giàn máy vi tính, kèn, trống… Từ đó tới nay, nhà thiếu nhi đã thu hút được đông đảo các em có năng khiếu đến học. Riêng năm 1997, Nhà thiếu nhi đã mở 11 lớp học đàn ooc – gan, 3 lớp võ thuật, 3 lớp thanh nhạc, 1 lớp đàn ghi ta và 2 câu lạc bộ nghệ thuật tuổi thơ với hơn 340 em theo học. Song song với các lớp học năng khiếu, nhà thiếu nhi còn tổ chức đào tạo Ban chỉ huy liên chi đội, các lớp bồi dưỡng cho hơn 300 cán bộ tổng phụ trách (mỗi tháng một lần). Ngoài ra, nhà thiếu nhi thị xã Sơn Tây còn giúp các huyện Phúc Thọ, Ba Vì, Thạch Thất mở các lớp năng khiếu. Chính nhờ các nơi đây mà năng khiếu của trẻ thơ được phát triển. Mọi cuộc thi của thị xã (Sơn Tây) của tỉnh (Hà Tây), Nhà thiếu nhi thị xã Sơn Tây đã tham gia và đều đạt loại giỏi, nhiều em đạt huy chương vàng, bạc, đồng. Ngoài ra, nhà thiếu nhi còn tham gia xây dựng một số chương trình ca nhạc đã phát trên loa đài thị xã, đài tỉnh (Hà Tây) hàng tuần, nổi bật là chương trình “Búp măng non”. Ngoài các lớp năng khiếu nơi đây còn thu hút, quy tụ trẻ em ngoài đội đến tham gia sinh hoạt, vui chơi giải trí, góp phần phòng chống các tệ nạn xã hội…
Thế nhưng cuối năm 1997, vừa qua địa điểm Nhà thiếu nhi bị sử dụng xây dựng nhà thi đấu thể thao của thị xã. Từ đó như “chim mất tổ” các em thiếu nhi phải nay nhờ gia đình này, mai nhờ cơ quan nọ và đi thuê địa điểm khác làm nơi sinh hoạt.
Dù vậy, hè năm 1998 thị đoàn thị xã Sơn Tây đã khắc phục khó khăn, vẫn triển khai tốt các sinh hoạt cho thiếu nhi. Đã xây dựng được các mô hình ở các cơ sở như: Cụm Sơn Lộc, cụm Xuân Khanh hoạt động đều đặn.
Thiết nghĩ, các cấp tỉnh Đảng, chính quyền, các ban ngành chức năng thị xã Sơn Tây cần sớm khắc phục tình trạng trên, gấp rút tạo dựng cho các em một mái ấm mới, góp phần thực hiện tốt LUẬT BẢO VỆ CHĂM SÓC THIẾU NHI, NHI ĐỒNG và biến khẩu hiệu “Hãy dành cho trẻ thơ những gì tốt đẹp nhất mà mình sẵn có” thành hiện thực.
Mạnh Khang – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 28 -1998

Hội thi cán bộ công đoàn giỏi

Vừa qua, Công đoàn Tổng công ty Xây dựng Sông Đà đã tổ chức: “Hội thi cán bộ Công đoàn giỏi năm 1998 khu vực phía Bắc” nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn.
Hội thi có 17 đơn vị với 33 thí sinh tham dự, trong đó số thí sinh nữ chiếm trên 30%.
Kết quả chị Nguyễn Thị Khuyến (Công ty xây dựng Sông Đà 2) đoạt giải nhất, anh Đoàn Duy Tường (Công ty xây dựng Sông Đà 8) giải nhì và chị Vũ Thị Liên (Công ty Xây dựng Sông Đà 2) giải ba.
Thông qua Hội thi Công đoàn Tổng công ty đánh giá đúng năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ của mình để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng cán bộ và phương pháp hoạt động công đoàn một cách thiết thực, có hiệu quả, xây dựng đội ngũ công nhân vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới trong sự nghiệp “Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa” đất nước.
Được biết Hội thi khu vực miền Trung và Miền Nam được tiến hành từ 25 – 30 – 9 – 1998 tại Công trường Thủy điện Yaly.
Một nghĩa cử đẹp của chị Phương Dung
Một tối đầu tháng 9 năm 1998, chị Nguyễn Thị Hồng Tâm, Ủy viên Hội chữ thập đỏ phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội đã tiếp chị Lê Phương Dung ở 10A Đốc Ngữ đến trao 200.000 đồng để giúp đỡ gia đình ông Trần Quang Nghiêm ở khu tập thể Bộ xây dựng 305B Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội. Từ tháng 10 – 1998 chị Phương Dung sẽ trợ cấp thường xuyên cho gia đình ông Nghiêm 200.000 đồng/ tháng.
Được biết ông Trần Quang Nghiêm hiện nay đã 70 tuổi già yếu và bị mù hai mắt, vợ ông 57 tuổi già yếu, hai vợ chồng không có con, là một trong những gia đình nghèo nhất ở phường.
Là công chức đang làm việc trú tại địa phương, chị Phương Dung đã thông qua Hội Chữ thập đỏ phường tìm đến gia đình nghèo để trợ cấp nuôi dưỡng, đó thật là một nghĩa cử đẹp để “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân” theo đạo lý truyền thống của dân tộc.
P. V – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 28 -1998

Công ty xây dựng số 1 không ngừng phát triển lớn mạnh

Tiền thân là Xí nghiệp liên hợp xây dựng số 1 nhiệm vụ chủ yếu xây dựng nhà ở bằng phương pháp lắp ghép tấm lợp, phù hợp với mặt bằng xây dựng lớn, nguồn vốn tập trung, góp phần giải quyết nhanh nhu cầu nhà ở cho nhân dân Thủ đô Hà Nội.
Trải qua những năm tháng bao cấp. Nhiều lần Công ty đã nhập vào và tách ra, đến tháng 5 năm 1995, Công ty là thành viên chính thức của Tổng công ty Xuất nhập khẩu – Xây dựng Việt Nam (VINACONEX).
Đến nay, Công ty có 13 đơn vị trực thuộc các xí nghiệp 1 – 2 – 3 – 4 – 5 xí nghiệp lắp ghép, xí nghiệp cơ giới sửa chữa và các đội trực thuộc… với tổng số Cán bộ công nhân viên 1.026 người, trình độ trung cấp 106, đại học và trên đại học 134. Hiện tại, công ty đủ sức cạnh tranh, thắng thầu trong cơ chế thị trường và đã khẳng định được mình qua hàng chục công trình lớn như làm việc Thành ủy Hà Nội, trụ sở Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn, trụ sở Tổng công ty xuất nhập khẩu chuyên gia IMS, WEST LAKE REGENCY 254D Thụy Khuê, nhà máy nước ngọt Coca – Cola, Đại sứ quán Úc tại Hà Nội, khách sạn GUAMAN HOTEL (Hà Nội) và khách sạn Trung tâm Hà Nội; các công trình hạ tầng bao gồm cấp thoát nước, giao thông, sân vườn cây xanh, các khu nhà ở… với mức tăng trưởng 25%./ năm.
Công ty đã được Công đoàn ngành và Bộ xây dựng tặng 15 Huy chương vàng chất lượng cao. Năm 1998 này, Công ty đạt kế hoạch doanh thu 105 tỷ, đến nay đã thực hiện 57,3 tỷ, đạt 54,5% kế hoạch.
Bằng những kết quả đã và đang đạt được Công ty xây dựng số 1 thực sự đã trở thành một trong những Công ty mạnh của Tổng công ty VINACONEX.
Thông xe nhiều công trình trọng điểm
(XD) Tin từ Bộ Giao thông Vận tải, từ đầu năm đến tháng 8 – 1998, ngành đã thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản ướt đạt 3.719 tỷ đồng (75,9% kế hoạch năm). Thực hiện đầu tư các dự án ODA ước đạt 2.315 tỷ đồng (80,56% kế hoạch năm). Giá trị sản lượng các đơn vị xây lắp và khảo sát thiết kế ước đạt 3.435 tỷ đồng (61% kế hoạch năm). Ngành cố gắng phấn đấu đạt mục tiêu: thông xe vào cuối năm 1998 các công trình trọng điểm: Quốc lộ 5, quốc lộ 14, quốc lộ 18, quốc lộ 51, cầu Gianh, cầu Hiền Lương, Riêng đường cao tốc Láng – Hòa Lạc sẽ đưa vào sử dụng quý I/ 1999.
Sĩ Trình – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 27 -1998