Lưu trữ hàng tháng: Tháng Mười Hai 2015

Vẫn chưa tìm ra được hướng đi cho nhà ở nông thôn – Phần 2

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có gần 20 triệu dân, trong đó có trên 10 triệu người sống trong khu vực ngập lụt với gần 2 triệu căn nhà tạm bợ (chiếm 75% nhà ở). Mỗi khi lũ về, đời sống của dân bị ngưng trệ và hết sức khó khăn. Theo sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ xây dựng hiện đang tiến hành chương trình phát triển nhà ở và môi trường sống ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một nhiệm vụ khó khăn vì nhu cầu vốn để cho dân vay xây nhà ở là rất lớn và không thể huy động số tiền lớn trong một thời gian ngắn được. Cụ thể là từ nay đến năm 2010, nếu tính bình quân 20 triệu đồng/ căn nhà thì cần phải có 50.000 tỷ đồng. Trong khi đó, Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long được cấp vốn 600 tỷ đồng, mà tốc độ giải ngân rất chậm vì Nhà nước quy định nông dân phải thế chấp “sổ đỏ” mảnh đất của mình thì mới được vay vốn ưa đãi lãi suất 0,8%/ tháng trả chậm để mua khung nhà lắp ghép mà chưa chắc đã vừa ý họ. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt ngày 5 – 1 – 1998 đặt ra mục tiêu trên 90% dân số có nhà ở kiên cố và bán kiên cố. Điều này, có nghĩa là mỗi năm phải xây dựng khoảng 20.000 căn hộ, mà tốc độ hiện nay chỉ đạt khoảng 1.200 căn hộ/ năm. Sở dĩ có sự chậm trễ này là do đa số dân ở Đồng bằng sông Cửu Long không đủ tiền để xây nhà (20 – 30 triệu đồng/ căn) trong khi bình quân thu nhập là 1.26 triệu đồng/ người/ năm. Thật là nghịch lý khi ở vùng đất giàu lúa gạo nhất cả nước mà tỷ lệ người nghèo lại rất cao, trên 50%. Hơn nữa, do sống ở vùng thường xuyên ngập lụt, người dân ở đây có tư tưởng tạm bợ, không có thói quen tiết kiệm tiền để xây dựng nhà ổn định; họ vẫn thường nói: “khôn tậu ruộng, dại làm nhà”.
Còn ở Đồng bằng Bắc Bộ, gần đây nhất (tháng 3 – 1998) Quỹ Văn hóa Thụy Điển – Việt Nam và Hội Kiến trúc sư Việt Nam đã tổ chức cuộc thi thiết kế mẫu nhà ở nông thôn. Cuộc thi đã kết thúc vào tháng 7 vừa qua. Kết quả: không có giải nhất, 2 giải nhì, 1 giải ba và 6 giải khuyến khích. Trong 3 tháng, chỉ có 37 phương án dự thi từ 12 tỉnh, thành gửi về, trong khi cả nước ta có gần 9.000 kiến trúc sư. Có ý kiến cho rằng thời gian thi quá gấp, đề thi chưa rõ ràng và kinh phí ít nên không thu hút được đông đảo Kiến trúc sư tham gia. Nhưng cũng có lẽ các Kiến trúc sư Việt Nam chưa mặn mà lắm với người nông dân? Kiến trúc sư thời cơ chế thị trường phải tự kiếm sống, nên không có thời gian và tiền bạc để tham gia thi thiết kế mẫu nhà ở cho nông dân. Mong sao các Kiến trúc sư Việt Nam sẽ tìm lại được lòng nhiệt tình của 20 năm về trước, khi tham gia cuộc thi quốc tế kiến trúc vì nông dân. Qua những thành công trong sáng tác mẫu nhà ở cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nên chăng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cùng Bộ Xây dựng hỗ trợ và tổ chức các cuộc thi, các hội thảo có trại sáng tác thiết kế mẫu nhà ở cho nông dân Đồng bằng Bắc Bộ. Hãy nghe lời tâm sự của một Kiến trúc sư: “Nông dân hộ nghèo, làm gì có tiền để thuê Kiến trúc sư về nhà vẽ cho mình. Tôi giúp họ chỉ vì mục đích thu thập kinh nghiệm mà thôi! Tôi nghĩ rằng người nông dân có thể xây dựng nhà ở của mình bằng gạch không nung, vì dùng gạch đất nung về lâu dài sẽ xâm phạm đất canh tác và hủy hoại môi trường”.
Có phải hiện nay chúng ta vẫn chưa tìm ra hướng đi cho nhà ở nông thôn?
Hoàng Mạnh Hà – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 33 -1998

Vẫn chưa tìm ra được hướng đi cho nhà ở nông thôn – Phần 1

Năm 1979, tại cuộc thi quốc tế “Kiến trúc nông thôn” do hiệp hội kiến trúc sư Thế giới (UIA) tổ chức, có 5 giải thưởng thì Việt Nam đã đoạt 3 giải, ông Micheal Lanthone lúc đó là tổng thư ký (UIA) đã khẳng định: “Chất lượng đồ án của các Kiến trúc sư Việt Nam được thể hiện trên hai mặt lý thuyết và thực hành, chính vì họ là những người tiên tiến trong việc giải quyết vấn đề kiến trúc nông thôn”. Nhưng thực tế, trong thời kỳ đô thị hóa ồ ạt như hiện nay, người nông dân vẫn chịu nhiều thiệt thòi, kiến trúc nông thôn hầu như không được quan tâm.
Quê tôi là một làng nhỏ và nghèo ven đê sông Hồng thuộc huyện Phú Xuyên (Hà Tây), người dân sống chen chúc, chật chội còn hơn cả thị thành, nhà nọ sát nhà kia, những con đường làng hẹp đến nỗi hai con trâu tránh nhau còn chật. Cả đời, bố tôi vẫn ao ước có được một mảnh vườn nho nhỏ trước nhà. Còn mẹ tôi cứ mỗi khi gặt xong lại phàn nàn không có chỗ phơi thóc và để rơm. Tôi biết quê mình không phải là trường hợp cá biệt. Còn có rất nhiều làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ hiện đang chịu cảnh đất chật, người đông. Ví như làng Viềng (Bắc Ninh), trước năm 1997 chỉ còn 10 mẫu cho 3.000 người (tính cả đất giao thông, công trình công cộng, ao vườn). Như vậy, sau 43 năm, bình quân đất cho 1 người giảm 70% hiện ở làng Viềng có nhà chỉ còn 40 mét vuông cho 6 nhân khẩu. Bùng nổ dân số, tài chính eo hẹp đã khiến cho nông thôn Việt Nam ngày nay không còn cảnh “ao sâu nước cả”, vườn rộng rào thưa nữa. Người nông dân đã phải lấp ao, phá vườn để biến thành đất ở. Nhà ở mọc lên lộn xộn, manh mún làm cho cấu trúc làng xã bao gồm cảnh quan, sinh thái bị phá vỡ, gây ô nhiễm môi trường.
Hiện nay, nông dân chiếm 80% dân số cả nước bao gồm khoảng 10 triệu hộ. Tại các làng, xã có đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện thành phần dân cư mới có nguồn gốc từ chuyên sản xuất nông nghiệp chuyển sang sản xuất và kinh doanh dịch vụ. Do đó xuất hiện các dạng nhà ở kiểu “thị thôn” mang tính chất đô thị và các tụ điểm ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ.
Theo số liệu điều tra của Viện Xã hội học năm 1994 ở các xã Đa Tốn (Gia Lâm, Hà Nội) và Văn Nhân (Phú Xuyên, Hà Tây) cho thấy có trên 91% nông dân đã ở nhà gạch mái ngói và nhà mái bằng, mái tầng. Còn số liệu của Ban kinh tế Trung ương điều tra ở 5 tỉnh là 47,49%. Nhưng diện tích ở và chất lượng nhà ở đã không được nói đến một cách cụ thể. Chúng ta rất cần có những điều tra tổng thể về nhà ở nông thôn các khu vực trên toàn quốc. Vì làm được như vậy, mới khai thác sử dụng quỹ đất trong việc quy hoạch trung tâm mới của làng, xã có hiệu quả, khuyến khích thu hút đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển kinh tế, ngành nghề nông thôn bền vững. Năm 1948, trong thư gửi Hội nghị Kiến trúc sư lần thứ nhất, Bác Hồ yêu cầu phải chú trọng đặc biệt tới nhà ở thôn quê. 50 năm sau, vấn đề này vẫn hết sức bức xúc. Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã nhấn mạnh. “… Nghiên cứu giải quyết các vấn đề về quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bố trí các điểm dân cư, kết cấu hạ tầng, kiến trúc nông thôn, tổ chức cuộc sống, bảo vệ và cải thiện môi trường sống…”.
Hoàng Mạnh Hà – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 33 -1998

Plan 3.0 – trợ giúp thiết kế kiến trúc, kết cấu

Phần mềm AutoCAD của hãng AutoDesk là công cụ đa năng của người thiết kế. Tuy nhiên, do tính vạn năng của nó, Auto CAD chưa thật phù hợp với lĩnh vực thiết kế, đặc biệt là trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc, xây dựng. Chương trình trợ giúp kiến trúc PLAN chạy trong môi trường AutoCAD R12, 14 đã một phần khắc phục được nhược điểm trên. PLAN chủ yếu trợ giúp kiến trúc sư, kỹ sư, họa viên trong công việc thiết kế, triển khai bản vẽ kỹ thuật.
PLAN là tập hợp các lệnh bổ trợ – các lệnh đó được xây dựng trên nguyên tắc làm đơn giản hóa quá trình thiết kế trên máy cũng như các thao tác của người sử dụng máy. PLAN cho phép người thiết kế triển khai một cách nhanh chóng các bản vẽ mặt bằng với các lệnh bổ trợ từ lúc rải đường trục cho tới lúc vẽ mặt bằng rồi đặt kích thước, hiệu chỉnh nhanh các đối tượng vẽ. Người thiết kế có thể sử dụng chương trình để vẽ tường, tường kính, cửa đi, cửa sổ, mặt bằng, mặt cắt cầu thang và những chi tiết khác. Từ bản vẽ mặt bằng PLAN cho phép người sử dụng thống kê các loại cửa sổ, cửa đi trong phần bản vẽ do người sử dụng lựa chọn.
PLAN giúp người sử dụng không thành thạo các chức năng vẽ phối cảnh có thể dễ dàng dựng được phối cảnh cơ bản của từng bộ phận hay tất cả công trình từ mặt bằng thiết kế bằng PLAN cũng như mặt đứng công trình từ tất cả các hướng.
PLAN cung cấp cho người thiết kế một thư viện phong phú các loại bàn, ghế, giường, tủ, cây, thiết bị vệ sinh, điện, nước… ở dạng 2 chiều và 3 chiều. Trên cơ sở này người thiết kế có thể thay thế đổi cho phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Với chức năng vẽ khung, cột, dầm, sàn bê tông, móng… và các chức năng phụ trợ như đặt cốt thép, cốt đai, bẻ móc thép, đánh số hiệu thép… PLAN sẽ làm đơn giản hóa cũng như rút ngắn quá trình thiết kế kết cấu. Ngoài ra PLAN còn giúp người thiết kế lập bảng thống kê cốt thép và tính tổng khối lượng thép là một công việc không mấy ưa thích của người thiết kế.
Với các lệnh phụ trợ và hiệu chỉnh của mình, PLAN đã cung cấp cho người sử dụng những công cụ vô cùng quan trọng để đẩy nhanh quá trình thiết kế. Đó là những lệnh chưa có trong AutoCAD như Copy rải theo trục bất kỳ, Copy xoay, Array dọc, Arry phối cảnh… hay những lệnh đã được đơn giản hóa cho người sử dụng trong PLAN như đổi các thuộc tính của đối tượng (màu sắc, nét vẽ, lớp vẽ) hiệu chỉnh kích thước, kiểu chữ…
Một trong những ưu điểm nổi bật của chương trình là khả năng cho phép sử dụng có thể dễ dàng xây dựng thư viện riêng cho các đối tượng 2D, 3D thông qua phương pháp chụp. Người sử dụng có thể tra cứu các đối tượng, khối thông qua ảnh thực của nó. Thư viện người dùng này được chia ra thành sáu mục như viện riêng vẽ giúp người sử dụng có thể quản lý thư viện của mình theo từng tính năng của đối tượng.
Ngoài ra chức năng chính đã nói ở trên PLAN còn có thể giải quyết được bài toán tính khối lượng san lấp nền, vẽ trắc dọc ống nước.
Với việc sử dụng PLAN cho phép tăng năng suất công việc và làm đơn giản hóa việc sử dụng máy tính trong quá trình thiết kế kiến trúc.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 33 -1998

Hoạt động chào mừng Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 8

Công đoàn cơ quan Bộ xây dựng tổ chức hội thi thể thao cho cán bộ, công nhân viên chức 2 môn bóng bàn và cầu lông vào đúng ngày Đại hội công đoàn toàn quốc khai mạc. Công đoàn cũng phối hợp cùng ban nữ công tổ chức tham quan, dã ngoại và giao lưu văn hóa cho chị em phụ nữ tại Hồ Tây nhân ngày 20 – 10.
Chào mừng Đại hội công đoàn Việt Nam lần thứ 8, Công đoàn ngành xây dựng đã phát động nhiều phong trào thi đua. Có gần 200 đơn vị được Bộ xây dựng và Công đoàn ngành cấp giấy chứng nhận “Đơn vị tổ chức tốt đời sống và điều kiện làm việc của công nhân viên chức ngành Xây dựng”. Có 2.058 người từ 8 đơn vị thuộc Bộ, 13 đơn vị địa phương tham gia “Thi tay nghề thợ giỏi”. Kết quả, 117 cá nhân đoạt giải xuất sắc, 359 loại giỏi, 790 loại khá.
Cũng nhân dịp này, Công đoàn ngành đã tổng kết phong trào “Bảo đảm và nâng cao chất lượng công trình ngành Xây dựng”. 150 công trình với tổng giá trị nên 200 tỷ đồng đã đăng ký chất lượng cao, trong đó Tổng công ty xây dựng Sông Hồng: 9 công trình, Tổng công ty lắp máy: 9 công trình, Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng: 38 công trình, Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng: 5 công trình, ngành Xây dựng Bình Thuận: 7 công trình…
Hướng tới Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 8, Tổng công ty xây dựng Sông Hồng đã đưa 13 sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào ứng dụng làm lợi 317 triệu đồng. Tổng công ty xi măng hoàn chỉnh lắp đặt và chạy thử xưởng nghiền chuyên liệu của nhà máy xi măng Bút Sơn.
Xây dựng thủy điện Yaly
Thác Yaly tràn ánh bạc lưu ly
Thả suối ngọc nơi Tây Nguyên hùng vĩ
Sông suối dữ nhưng nhiều khi thủ thỉ
Quyến rũ người tận tụy đến dựng xây
Dù anh đến, anh đi đêm ngày nối tiếp
Hay nữa mai ở lại nơi đây
Cũng như dòng Sê San có lúc nước vơi đầy
Nhưng còn mãi suối đường dây mang dòng điện
Để Tây Nguyên càng thêm hãnh diện
Ánh sáng mọi miền hòa điện Yaly
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 31 -1998

Hoạt động tích cực của công đoàn cơ sở công ty cấp nước Lâm Đồng

Công đoàn cơ sở công ty cấp nước Lâm Đồng gồm 7 công đoàn bộ phận, với 228 cán bộ công nhân là đoàn viên. Được Đảng ủy công ty và chuyên môn quan tâm, đặc biệt là sự chỉ đạo sâu sát có hiệu quả của công đoàn ngành, Liên đoàn lao động tỉnh, trong nhiệm kỳ qua công đoàn Công ty cấp nước Lâm Đồng đã vượt qua được những khó khăn, hoàn thành được nhiệm vụ.
Năm 1996, giá trị tổng sản lượng toàn Công ty đạt 19,8 tỷ, tăng 43% so với kế hoạch, sản xuất cấp nước đạt 11,2 tỷ, giá trị xây lắp 7,8 tỷ, nộp ngân sách 2,5 tỷ, lãi 1,3 tỷ. Năm 1997, giá trị tổng sản lượng đạt 23 tỷ, sản xuất cấp nước đạt 11,8 tỷ, giá trị xây lắp 5,8 tỷ, nộp ngân sách 2 tỷ.
Việc thực hiện chính sách đối với người lao động, công đoàn và chuyên môn phối hợp chặt chẽ, thực hiện đầy đủ các điều khoản trong thỏa ước lao động bao gồm tiền thưởng, tiền lương, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội… Cán bộ công nhân viên còn được hưởng 50% bảo hiểm tai nạn, 50% bảo hiểm phẫu thuật và nằm viện do Công ty đãi thọ. Dụng cụ lao động và bảo hộ lao động được trang bị đầy đủ, đúng hạn phù hợp với đặc điểm sản xuất của từng bộ phận, từng người; công đoàn kết hợp chuyên môn kiểm tra thường xuyên việc chấp hành an toàn lao động. Trong điều kiện đời sống người lao động còn khó khăn, công đoàn cùng với chính quyền thống nhất trích quỹ phúc lợi cho cán bộ công nhân viên vay tiền không tính lãi để làm nhà hoặc mua phương tiện đi lại với lĩa suất thấp: đến nay đã có 125 cán bộ công nhân viên được vay 750 triệu đồng. Năm qua, 100% đoàn viên công đoàn đã tự nguyện đóng góp xây dựng các quỹ: xóa đói giảm nghèo (5 triệu đồng); đền ơn đáp nghĩa (4.491.000 đồng), ủng hộ đồng bào tỉnh Kiên Giang bị bão số 5 (10 triệu đồng); ủng hộ nhân dân Cu ba 4.770.000 đồng. Trong sản xuất kinh doanh, các đoàn viên công đoàn đã có một số sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Dự án cải tạo cấp nước thành phố Đà Lạt, trong một thời gian ngắn tập thể cán bộ kỹ thuật công ty nắm bắt kịp thời công nghệ tiên tiến mà theo đánh giá của chuyên gia phải mất 1 – 2 năm mới có thể thành thạo được.
Với những đóng góp cụ thể, 3 đoàn viên công đoàn đã được Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng Bằng lao động sáng tạo, 3 người khác được tặng Huy chương Vì sự nghiệp công đoàn, 4/7 công đoàn bộ phận và 15/22 tổ công đoàn đạt đơn vị vững mạnh.
Ngô Hữu Đoàn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 31 -1998

Cổ phần hóa thêm 6 doanh nghiệp của Bộ xây dựng

Bộ xây dựng đang chuẩn bị các công việc cần thiết để trong những tháng cuối năm này tiến hành cổ phần hóa thêm 6 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp sẽ bán cổ phần đợt này gồm có: Công ty bê tông, Công ty vật tư và sản xuất Vật liệu xây dựng Đông Anh, Nhà máy gạch Thạch Bàn, Xưởng bao bì Xuân Hà, Nhà máy sản xuất tấm lợp và xà gồ kim loại Bạch Đằng, Chi nhánh Công ty vật tư vận tải Sông Đà 12 tại Quảng Ninh. Được sự giúp đỡ và chỉ đạo của Bộ xây dựng, các doanh nghiệp kể trên đã hoàn tất các bước thủ tục triển khai cổ phần hóa như kiểm kê, định giá tài sản, xử lý những vấn đề tồn đọng về tài chính, lao động; xây dựng điều lệ và phương án hoạt động của công ty cổ phần… Nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị triển khai nhanh công tác cổ phần hóa, Bộ xây dựng đã khẩn trương sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh phương án mẫu về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần; điều lệ mẫu Công ty cổ phần và quy trình cổ phần hóa từ 28 bước xuống còn 15 bước theo các văn bản Nhà nước mới ban hành…
Tin vắn
Vừa qua, tại khu Công nghiệp Hòa Khánh, Đà Nẵng, Công ty xây lắp điện 3 kết hợp với Công ty xây dựng số 7 đã tổ chức lễ khánh thành nhà máy gạch block Đà Nẵng công nghệ 25 triệu viên/ năm. Đây là nhà máy sản xuất gạch không nung đầu tiên ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên, với công nghệ thiết bị của Hàn Quốc. Gạch block có khả năng chịu lực cao, cách âm, cách nhiệt, thoát nước tốt trong trường hợp lát lốt đi, vỉa hè, đặc biệt tiết kiệm được xi măng và thời gian trong quá trình xây dựng.
Phòng quy hoạch nhà và công trình xây dựng (Sở xây dựng Vĩnh Phúc) tuy mới thành lập nhưng đã giúp cho tỉnh quy hoạch, kiểm tra, cấp phép cho nhiều công trình trên địa bàn tỉnh. Tới nay phòng đã thực hiện quy hoạch khu trung tâm hành chính tỉnh rộng 130 ha, khu dân cư số 1: 24 ha cho 700 hộ, khu dân cư số 2: 63 ha cho 1100 hộ, điều chỉnh và kiểm tra quy hoạch huyện lỵ Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên… đồng thời cấp phép xây dựng cho trên 200 công trình.
Hoàng Lâm – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 31 -1998

Tổng công ty xi măng Việt Nam “Tiết kiệm hơn 60 tỷ đồng”

(XD) Tổng công ty xi măng Việt Nam đã áp dụng những biện pháp kỹ thuật mới để giảm tiêu hao vật chất, thay thế các nguyên liệu chi phí cao bằng các nguyên liệu có chi phí thấp hơn. Đồng thời Tổng công ty có những biện pháp đẩy nhanh vòng quay vốn lưu động, giảm mức tồn kho, sử dụng linh hoạt các nguồn vốn nhằm giảm lãi vay, tổ chức lại mạng lưới tiêu thụ, hạ dần chi phí lưu thông. Đối với những sửa chữa lớn, bằng biện pháp đấu thầu giá cũng đã hạn chế được rất nhiều chi phí. Do đó, 9 tháng đầu năm 1998 toàn Tổng công ty đã tiết kiệm bằng cách giảm chi phí được 60,436 tỷ đồng.
Tin đọc nhanh
Mức lạm phát của nước ta trong 10 tháng đầu năm: nay là 8,2% trong đó lương thực tăng 21,8%; vật phẩm và dịch vụ giáo dục: 8,8%; dược phẩm, y tế: 7,2%; thực phẩm: 7,1% còn tất cả các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác đều tăng thấp: 1,1 – 4%. Giá vàng tăng 0,5% và USD cũng chỉ tăng 11%.
Số lao động qua đào tạo: hiện nay của nước ta mới chiếm 17,8% tổng số lao động, riêng đào tạo nghề chỉ có 10,4%.
Theo kết luận điều tra của công an Thành phố Hồ Chí Minh, toàn bộ công nợ của Minh Phụng, EPCO lên đến 5.000 tỷ đồng và mức độ thiệt hại lên đến 3.000 tỷ.
Đã có lời cảnh báo có thể sẽ xảy ra tình trạng lợi dụng sự cố máy tính năm 2000 để biến thành cơ hội tiêu tiền phung phí: Chủ tịch hội tin học Việt Nam, cho rằng “về mặt này ta có thể tham khảo kinh nghiệm của Thái Lan”. Tức là: các cơ quan nhà nước đều phải tự điều chỉnh khoản ngân sách của mình để giải quyết Y2K còn các ngân hàng phải tự lo hoàn toàn.
Bộ thương mại vừa hướng dẫn thực hiện việc cấm nhập khẩu a – mi – ăng theo đó doanh nghiệp khi làm thủ tục nhập khẩu các sản phẩm, vật liệu có chứa a – mi – ăng phải xuất trình tài liệu chứng minh hàng hóa đó không chứa a – mi – ăng nhóm Amphibole.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 32 -1998

Thị trường ơi! Mở ra

Cho đến thời điểm này, có thể khẳng định một điều: Công ty cơ khí Xây dựng và lắp máy điện nước (COMAEL) do Lê Hồng Tịnh làm giám đốc là một đơn vị ăn nên làm ra, có tiềm năng thị trường to lớn, bất chấp bối cảnh khó khăn hiện nay của các doanh nghiệp cơ khí nói riêng và ngành Xây dựng nói chung.
Chỉ hai năm trở về trước khi đó là điều cán bộ, công nhân của công ty không hề dám nghĩ tới. Cho đến khi kỹ sư Lê Hồng Tịnh chính thức “nhập cuộc” với cương vị giám đốc, một cuộc cách tân mạnh mẽ về phương án sản xuất, kinh doanh và một mô hình đầu tư mới được thực thi, mang lại cho COMAEL “thể trạng khỏe mạnh” và hiệu quả cao. Song song với việc đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng cơ khí xây dựng truyền thống, giám đốc Lê Hồng Tịnh quyết tâm “đột phá” vào các sản phẩm cơ khí phục vụ ngành điện. Với người khác, hướng đi này có thể là liều lĩnh nhưng với Lê Hồng Tịnh thì hoàn toàn không, có chăng chỉ là sự táo bạo và quyết đoán bởi anh tính toán bằng “cái đầu” của một kỹ sư chuyên ngành điện và bản lĩnh của một nhà kinh doanh năng động trong cơ chế thị trường. Anh đã đúng, bởi vì thời điểm đó và ngay cả bây giờ, sản phẩm cơ khí phục vụ ngành điện vẫn đang là thị trường bỏ ngỏ. Mặt khác, ngành điện lại là ngành có doanh thu rất cao. Phương án thành công, đồng nghĩa với việc COMAEL bội thu, Cán bộ công nhân viên phấn khởi, yên tâm, lao động và lãnh đạo Tổng công ty cơ khí cất được gánh nặng lo âu.
Nếu như 6 tháng đầu năm 1996, doanh thu của Công ty mới chỉ đạt 1 tỷ đồng, thì cùng thời điểm này năm 1998, con số đó đã đạt tới 23 tỷ đồng, trong đó sản phẩm cơ khí phục vụ ngành điện chiếm trên 40%. Chỉ tính riêng năm 1997 Công ty lãi khoảng 850 triệu đồng. Tổng số công nhân lao động lên đến 500 người (tăng gấp hai lần). Những lợi nhuận nắm chắc trong tay đó có thể coi là thắng lợi lớn, song còn một thứ lãi vô hình nhưng rất quan trọng, đó là những sản phẩm cơ khí nhãn hiệu COMEL đã có mặt trên nhiều công trình hiện đại khắp đất nước như: Cột ly tâm sơn tĩnh điện, tủ bảng điện…
Có dịp xuống công ty, chúng tôi được chứng kiến một cảnh hiếm thấy trong thời buổi kinh tế thị trường: Tại kho, các đơn vị ngành điện xếp hàng chờ đến lượt nhận hòm, chuẩn cho công tơ điện – sản phẩm chỉ có COMAEL độc quyền sản xuất và bán theo giá thầu đã ký với ngành điện. Còn tại các hộ gia đình ở Hà Nội hiện nay mặt hàng này cũng đang “ngự trị”.
Niềm vui với những thành công bước đầu còn nao nức, nhưng trong đầu kỹ sư giám đốc trẻ Lê Hồng Tịnh vẫn bộn bề những dự tính sản xuất các loại hàng hóa trực tiếp cạnh tranh với hàng nhập ngoại như: máy trộn bê tông loại vừa, buồng thang máy, gang cầu hóa, đường ống nước bằng gang, van nước… Tôi tin rằng, với những người biết đọc chính xác câu thần chú như Lê Hồng Tịnh chắc chắn sẽ mở được cánh cửa đến với nhiều thị trường mới mẻ.
Thanh Nhàn – Hồng Diên – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 31 -1998

Hội thi “Tài năng trẻ thủ đô năm 1998”

(XD) Đầu tháng 10, tại trường Trung học công nghiệp Hà Nội đã diễn ra vòng chung kết hội thi “Tài năng trẻ thủ đô năm 1998” với sự tham gia của 39 thí sinh thuyết trình đề tài, giải pháp khoa học – công nghệ – quản lý; 61 thí sinh thi chọn “Bàn tay vàng” ngành cơ khí các nghề tiện, nguội, hàn.
Kết quả, Ban tổ chức hội thi đã công bố 8 giải nhất, 8 giải nhì, 10 giải ba cho các đề bài khoa học và 10 giải “Bàn tay vàng”. Nhiều đại diện của ngành Xây dựng đã đạt giải cao trong cuộc thi như Phạm Đức Phú (công ty gạch Thạch Bàn) với đề tài Quốc Toàn (Bộ Xây dựng) với đề tài “Dự toán 97” đạt giải nhất phần thi thuyết trình đề tài; Đào Văn Tiên (Công ty cơ khí xây dựng lắp máy điện nước) đạt giải “Bàn tay vàng”.
Tin vắn
Khu đô thị Bắc hồ Linh Đàm (Thanh Trì – Hà Nội) sẽ được phủ xanh: đó là dự án giữa Liên doanh cây xanh, cây cảnh Linh Đàm của Hội thanh niên xung phong thủ đô với Công ty phát triển nhà và đô thị Bộ xây dựng. Dự án này đã được triển khai từ tháng 2 – 1998 với tổng diện tích phủ xanh cho khu vui chơi giải trí là 6,4936 ha. Trong tương lai khu đô thị mới Bắc hồ Linh Đàm sẽ trở thành một khu du lịch, vui chơi, giải trí cho người dân Thủ đô.
Đến hết tháng 9 – 1998 vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn Bắc Cạn ước đạt 101,9 tỷ đồng bằng 73,32% kế hoạch năm. Trong đó vốn ngân sách nhà nước tập trung 45.005 triệu đồng, nguồn vốn các Bộ, ngành đầu tư thẳng 15.854 triệu đồng, vốn trung ương quản lý 14.344 triệu đồng.
Sau 2 năm thi công xây dựng cơ bản, Nhà máy cung cấp nước sạch của tỉnh Trà Vinh đã hoàn thành các hạng mục xây dựng cơ bản để đưa vào sử dụng.
Công trình có tổng kinh phí xây dựng cơ bản bằng 82 tỷ VNĐ, trong đó ngân sách của nhà nước Việt Nam chi 25 tỷ đồng, chính phủ Úc viện trợ 6,65 triệu USD Úc.
Phạm Sơn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 31 -1998

Chỉ thị về việc đổi mới công tác thi đua khen thưởng của ngành xây dựng

(XD) Thực hiện Chỉ thị số 35/CT – TW của Bộ Chính trị ngày 3 – 6 – 1998 về đổi mới công tác thi đua Khen thưởng trong giai đoạn mới và Nghị định số 56/1998/NĐ – CP quy định các hình thức, đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng của Chính phủ v.v… ngày 13 – 10 – 1998 Bộ trưởng Bộ xây dựng Nguyễn Mạnh Kiểm đã ký chỉ thị số 12/1998/CT – BXD về việc đổi mới công tác thi đua khen thưởng của ngành xây dựng. Báo xây dựng xin giới thiệu nội dung 5 điểm của Chỉ thị.
Các tổ chức, các đơn vị cần phối hợp với Công đoàn, Đoàn thanh niên dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng tiến hành tổng kết, phân tích thực trạng tình hình công tác thi đua khen thưởng trong hơn 10 năm đổi mới, kiểm điểm đánh giá tình hình và tìm ra nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm áp dụng cho phù hợp với tình hình mới. Đối với các đồng chí thủ trưởng đơn vị phải kiểm điểm sâu sắc về nhận thức và trách nhiệm cá nhân với việc tổ chức phát động, duy trì, nhân rộng phong trào thi đua.
Các cấp ủy Đảng phải có trách nhiệm chỉ đạo, lãnh đạo quán triệt Chỉ thị 35/CT – TW ngày 3/6/1998 của Bộ Chính trị và trả lời kêu gọi thi đua yêu nước mới Chủ tịch nước Trần Đức Lương nhân kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ phát động thi đua ái quốc và các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác thi đua khen thưởng. Các đơn vị cần tổ chức hội thảo, sinh hoạt chuyên đề, xây dựng chương trình hành động… nhằm đổi mới nhận thức về vai trò, vị trí quan trọng của công tác thi đua khen thưởng trong thời kỳ đổi mới, lãnh đạo các đơn vị phải xây dựng kế hoạch củng cố kiện toàn Hội đồng thi đua – khen thưởng và củng cố bộ máy chuyên trách giúp việc Hội đồng thực hiện tốt mối quan hệ mật thiết giữa thi đua và khen thưởng.
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của đơn vị trong thời kỳ đổi mới, để xác định mục tiêu thi đua cho phù hợp.
Đối với công tác quản lý Nhà nước: hướng vào việc nghiên cứu ban hành cơ chế chính sách quản lý Ngành, đề xuất các biện pháp tổ chức thực hiện, nhằm nâng cao hơn nữa vai trò quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực do Ngành phụ trách.
Đối với công tác hoạt động sản xuất kinh doanh: Phải tập trung vào hiệu quả kinh tế – xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, đổi mới cơ chế ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Mục tiêu là: Tốc độ tăng trưởng hàng năm, sản phẩm mới, chất lượng, hiệu quả, nghĩa vụ với Nhà nước, khả năng và trách nhiệm hoàn thành các mục tiêu trọng điểm.
Đối với công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo cần hướng vào việc nghiên cứu ứng dụng, các đề tài khoa học trong sản xuất kinh doanh, tổ chứ dạy tốt, học tốt nhằm đào tạo ra nhiều thế hệ cán bộ, công nhân có năng lực và trình độ quản lý, khoa học kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Mỗi đơn vị phải căn cứ vào tiêu chuẩn chung quy định tại Nghị định 56/1998/NĐ – CP và các quy định của Nhà nước để quy định tiêu chuẩn các danh hiệu thi đua (được cấp trên một cấp phê duyệt) làm căn cứ để xét duyệt thi đua; chỉ tiêu thi đua cần định ra sao cho chỉ tiêu không cao quá để không hoặc rất ít người có thể đạt được; cũng không thấp quá để mọi người ai cũng có thể đạt được dễ dàng.
Lập kế hoạch triển khai và đề ra các biện pháp thực hiện công tác thi đua khen thưởng định kỳ hàng năm và khen thưởng đột xuất theo tinh thần của Nghị định 56/1998/NĐ – CP và các quy định hiện hành khác về công tác thi đua khen thưởng.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 31 -1998