Lưu trữ hàng tháng: Tháng Bảy 2016

Trên công trường xây dựng nhà máy xi măng nghi sơn

Các đối tác phía Việt Nam thật tuyệt vời
Nhà máy xi măng Nghi Sơn – liên doanh giữa Tổng Công ty xi măng Việt Nam, tập đoàn Nihon Cement Corportation và tập đoàn Mitsubishi Matereal Corporation của Nhật Bản đang trong thời gian thi công nước rút, giữa nắng gió miền Trung và bề bộn những cấu kiện bê tông, sắt thép, chúng tôi đã có dịp gặp gỡ và phỏng vấn ông M. Morlta, giám đốc dự án xi măng Nghi Sơn thuộc tập đoàn Shimizu Corporation tại Việt Nam.
Phóng viên: Thưa ông, ông có thể giới thiệu đôi chút về mình và phần công việc ông đảm nhiệm trong thời gian ở Việt Nam?
Ông M. Morlta: Tôi là thành viên của tập đoàn Shimizu Corporation, một trong những tập đoàn kinh tế lớn nhất của Nhật Bản, hoạt động trên nhiều lĩnh vực như xây dựng, buôn bán kinh doanh, nhưng công việc chính vẫn là xây dựng. Trước khi đến Việt Nam, tập đoàn Shimizu Corporation nói chung, bản thân tôi nói riêng, đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới như các khu vực bắc và nam Mỹ, một số nước ở châu u, châu Á, Thái Lan… và Indonesia.
Phóng viên: Tập đoàn Shimizu Corporation có mặt tại nhà máy xi măng Nghi Sơn với ta cách gì?
Ông M. Morita: Xi măng Nghi Sơn là một công trình liên doanh, với 70% vốn góp của Nhật Bản. Chúng tôi là một trong ba nhà thầu chính đảm nhiệm phần xây dựng cơ bản.
Phóng viên: Hai nhà thầy còn lại?
Ông M. Morita: đó chính là hai tập đoàn kinh tế hơn của Việt Nam: Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam (Vinaconex) và Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội.
Phóng viên: Vì sao các ông lại chọn hai tập đoàn kinh tế này của Việt Nam làm các đối tác liên doanh?
Ông M. Morita: Mong muốn lớn nhất của chúng tôi là xây dựng được các xi lô xi măng chất lượng cao tại Việt Nam, bởi đây là hạng mục quan trọng nhất trong dây chuyền sản xuất Xi măng. Sau khi hoàn thành luận án khả thi, qua các hãng tư vấn, qua những thông tin tiếp nhận được, chúng tôi nhận thấy rằng đây là những tập đoàn xây dựng hoàn hảo và chúng tôi cũng hiểu rằng ở Việt Nam có các doanh nghiệp như Công ty 9 có đủ năng lực để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra. Do vậy, chúng tôi đã chọn Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam làm đối tác. Và, cũng tương tự như vậy là Tổng Công ty xây dựng Hà Nội.
Phóng viên: Ông có nhận xét gì về công tác tổ chức, năng lực thi công, trình độ kỹ thuật và thái độ lao động của các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam nói chung và trên công trường xây dưng nhà máy xi măng Nghi Sơn nói riêng?
Ông M. Morita: Trước khi đưa ra những lời nhận xét, có thể nói đây là lần đầu tiên chúng tôi có mặt tại Việt Nam. Trước đó chúng tôi chưa hề biết gì về khả năng của các đối tác Việt Nam và lo rằng liệu các đối tác Việt Nam có đảm nhiệm được công việc không? Nhưng, khi vào việc thì thật tuyệt vời, đội ngũ các nhà quản lý và công nhân Việt Nam thật giàu tiềm năng. Các giám sát viên Nhật Bản cũng phấn đấu làm sao thật cặn kẽ trong công việc. Và, đối với các lao động Việt Nam, càng được hướng dẫn cặn kẽ, họ càng hoàn thành tốt mọi phần việc được mọi hạng mục công trình đều bảo đảm về tiến độ và chất lượng, chủ đầu tư luôn hài lòng.
Phóng viên: Ông có thể cho một ví dụ cụ thể?
Ông M. Morita: Xin mời các ông cứ xem mấy cái xi lô xi măng. Khi thi công, đầu tiên tôi đưa ra biện pháp thi công, đầu tiên tôi đưa ra biện pháp thi công của Nhật Bản, nhưng thật khó áp dụng ở đây. Đặc biệt là các dàn kết cấu mái những khối sắt thép cực lớn. Chúng tôi đưa ra phương án vừa trượt vừa nâng. Phương án thì nhất trí, nhưng biện pháp thì tranh luận nhau kịch liệt, thậm chí bàn cãi đến mức dữ dội. Phải thừa nhận rằng khi bàn cãi, bao giờ phía Việt Nam cũng có sự nhìn nhận hiểu biết. Thống nhất phương pháp rồi thì với kinh nghiệm tổ chức đều hành và trình độ tay nghề kỹ thuật cao, Tổng Công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam đã tổ chức thực hiện cực kỳ hiệu quả. Chúng tôi ngạc nhiên trước sức sáng tạo và hoàn thành công việc của phía các ông!.
Phóng viên: Các ông có dự kiến gì tiếp trong hợp tác, liên doanh với Việt Nam sau khi việc xây dựng nhà xi măng Nghi Sơn hoàn tất?
Ông M. Morita xin lỗi, tôi là người kinh doanh nên chưa thể nói trước.
Phóng viên: Thật tiếc, xin cảm ơn ông!.
Dự án xây dựng tượng đài Bác Hồ tại Nghệ An
Đảng bộ tỉnh Nghệ An đề nghị được xây dựng tượng đài chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nghệ An với kinh phí khoảng 16 tỷ đồng. Vừa qua, Bộ Chính trị đã xem xét và đông y cho xây dựng Bác tại quê hương nhưng giao cho các cơ quan chức năng phải lập thành dự án vì đây là công trình văn hóa quốc gia, đồng thời lấy ý kiến các ngành và nhân dân với phương châm bảo đảm mỹ thuật, tiết kiệm, không phô trương hình thức. Đây là một công trình được xem là thế kỷ của nước ta. Thể hiện lòng biết ơn với vị Chủ tịch kính yêu của nước nhà.
Trần Quốc Khải- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 24 (65)1999.

Chú báo vê tít

Sắp đến ngày 21 tháng 6 rồi, ông cũng chúc cánh nhà báo câu gì đi chứ? Nhà báo các ông thì giỏi lắm rồi, nhất là trong việc đấu tranh chống tiêu cực, dũng cảm lắm. Nhưng cũng phải thành thực với nhau rằng chúc báo đừng đưa tin sai. Cái ông này ăn cơm còn có hạt vãi. Có làm có sai chứ, nhưng biết sai rồi thì sửa chứ sao. Phải, tôi biết cái sửa của các ông lắm rồi. Viết sai, in sai rành rành, đáng lẽ phải đính chính thì lại nói “Xin đọc lại là” “Nói lại cho rõ”. Cứ làm như bạn đọc chúng tôi độc sai, bây giờ báo phải nhắc nhở để đọc lại cho đúng. Thôi, cái ấy nhiều báo đã sửa rồi, khổ lắm, cứ chẻ sợi tóc làm tư… Chưa hết đâu, nhiều khi chưa đâu vào đâu, đã làm ầm ĩ lên, nào là ăn vải Lục Ngạn bị ngộ độc, rồi một thầy giáo quấy rối tình dục học sinh trong phòng thi. Đợi đến khi báo nói lại thì dân Lục Ngạn cũng đủ điêu đứng rồi. Còn thầy giáo kia nếu sau này là vô tội thì biết đến bao giờ mới lấy lại được danh dự đã bị bôi nhọ kia. Cái danh dự của một con người là quan trọng lắm. Khiếp, dạo này ông cũng lắm nhờ thế. Vẫn chưa hết đâu, tôi còn chúc báo vê tít. Cái gì? Ông lại nghĩ ra cái trò gì vậy?. Nghĩa là Viết Tắt ít thôi. Bây giờ viết tắc tràn lan, ngay cả trong bài phỏng vấn cũng viết tắt. Nhiều khi cả phòng tôi, rồi cả nhà tôi thách đố nhau giải mã các cụm từ viết tắt trên báo mà mãi không ra. Có khi mang lại hỏi tác giả đến khi ấy cũng chịu.
Tổng Công ty xây dựng sông Đà tập huấn bảo hộ lao động
Trong 2 ngày từ ngày 11 đến ngày 12 tháng 6 năm 1999, Tổng Công ty Xây dựng Sông Đà đã tổ chức lớp tập huấn về công tác bảo hộ lao động cho 50 người là cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật doanh nghiệp nhằm hướng dẫn người sử dụng lao động nắm vững quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với công tác an toàn vệ sinh lao động, các biện pháp tổ chức quản lý, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động trong doanh nghiệp. Kết thúc khóa học, các học viên được cấp chứng chỉ của tổ chức lao động quốc tế ILO.
Những văn bản mới của Chính phủ
Chấp nhận các đơn vị trúng thầu việc xây dựng khu nhà sản xuất chinh gói số 5, dự án Nhà máy xi măng Nghệ An gồm Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, Tổng công ty xây dựng Sông Đà, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam, giá trúng thầu trọn gói là 85,3 tỷ đồng, thời gian thực hiện là 515 ngày (VB 578/CP-CN ngày 4 tháng 6 năm 1999).
Xây dựng thử nghiệm 1 nhà máy ván sợi ép cường độ trung bình tại tỉnh Gia Lai và 1 nhà máy vạn dặm tại tỉnh Thái Nguyên để thu thập dữ liệu hoạch định việc phát triển công nghiệp ván nhân tạo vào những năm tới, trong khi chưa xây dựng được các nhà máy sản xuất ván nhân tạo, Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp thu mua gỗ nguyên liệu rừng trồng của nông dân để xuất khẩu (VB 2394/VPCP-NN ngày 4 tháng 6 năm 1999).
Xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh môi trường Thành phố Buôn Ma Thuột
Ngày 9 tháng 6 năm 1999 Công ty cấp thoát nước tỉnh Đắc Lắc đã chính thức làm lễ khởi công xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh môi trường thành phố Buôn Ma Thuột, tuyến ống truyền tải từ Cư-Pul về km số 5 dài 7 km với tổng kinh phí đầu tư là 12,258.67 tỷ đồng, một hạng mục của dự án cấp nước và Vệ sinh môi trường do Đan Mạch trợ giúp, Công trình do Công ty tư vấn Carl Bro Đan Mạch thiết kế và Công ty xây dựng số 4 thuộc Tổng Công ty Vinaconex thi công. Dự kiến sẽ hoàn thành vào trung tuần tháng 9 năm 1999. Khi đó sẽ năng suất cấp nước cho thành phố Buôn Ma Thuột lên 20 nghìn mét khối trong một ngày đêm.
Hai Còm- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 24 (65)1999.

Tiền vay ngân hàng phải chăng chỉ để đảo nợ

Lời khai của Phạm Nhật Hồng và Nguyễn Ngọc Bích đã bị đại diện của ICB Việt Nam và VCB trung ương phản bác trong phiên tòa ngày 4 tháng 6 năm 1999. Ông Phan Dương đại diện của VCB Trung ương bác bỏ lời khai này của Bích đã khẳng định Tổng giám đốc chỉ đạo cho vay phải có tài sản thế chấp mới giải quyết và trả xong nợ cũ mới cho vay nợ mới theo hướng giảm dần. Việc giám đốc chi nhánh làm sai, chi nhánh phải chịu trách nhiệm. Về lời khai của Phạm Nhật Hồng mỗi khi mở L/C ICB Việt Nam là nơi phát hành ông Đặng Văn Phượng đại diện ICB Việt Nam cho là hoàn toàn sai với quy định của ICB Việt Nam bởi theo ông, Tổng giám đốc ủy quyền cho chi nhánh được bảo lãnh L/C theo hạn mức và sau khi thực hiện báo lại cho ICB Việt Nam. Thìn khai tháng 4 năm 1996 Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO nợ ICBV – Thành phố Hồ Chí Minh là 100 tỷ đồng và 5 triệu đô la Mỹ, hai ngân hàng này thông báo hạn mức và yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO phải giảm nợ trong thời gian sớm nhất. Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO họp Hội đồng quản trị sau đó báo cáo lên Ủy ban nhân dân quận 3 bốn biện pháp cấp bách là dùng các biện pháp nhân các công ty của Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO để vay trả nợ cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO, bán tài sản và hàng hóa của Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO đang thế chấp cho ngân hàng, dùng tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO liên doanh với đối tác trong và ngoài nước để có vốn giảm nợ cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO và đề nghị ngân hàng cho vay dài hạn để mua lại nợ cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO. Nhưng số tiền Thìn vay được từ ngân hàng không chỉ nhằm mục đích để đảo nợ. Sáng ngày 5 tháng 6, khi chủ tọa Nguyễn Đức Sáu, hỏi về vụ biệt thự 213 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Thìn khai đây là ngôi nhà Trilimex thuê của công ty quản lý kinh doanh nhà Thành phố Hồ Chí Minh, khi Trilimex làm ăn thua lỗ, Ban giám đốc bị khởi tố Công ty còn nợ ngân hàng quận 3 hơn 3 tỷ đồng, quận ủy quận 3 gọi Thìn lên đề nghị với Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO giải quyết số tiền này. Thì đã ký hợp đồng thuê căn nhà này 20 năm, trả trước cho quận là 3,2 tỷ đồng nhưng chưa nhận nhà. Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO thông qua Công ty con Hồng Minh mua của Nguyễn Tấn Phúc, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO căn nhà cấp 4 rộng 40 mét vuông ở ấp An Bình – An Khánh – quận Thủ Đức trong khuôn viên 1.600 mét vuông với giá là 800 lượng vàng. Liên Khui Thìn còn khai mua một cổ phần trị giá là 3,2 tỷ tại Công ty Hồng Long sau đó rút chuyển cho em ruột là Liên Khôi Dương xây một nhà máy chế biến hải sản ở Nha Trang, một cổ phần là 700 triệu đồng ở Công ty Kiến Tạo… Riêng tài sản mà vợ cũ của Thìn khi ly hôn tháng 1 năm 1997 được chia gồm hai căn nhà, 2 xe hơi, 600 mét vuông đất ở An Khánh tòa nói bản án đã bị cấp giám đốc thẩm tiêu hủy do vậy đây vẫn còn là tài sản chung của Thìn và vợ. Đại diện Viện kiểm sát thẩm vấn Trần Văn Lạc và Nguyễn Lê Định, giám đốc 2 Công ty con Xuyên Việt và Hồng Minh của Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO. Hai bị cáo xác nhận tháng 10 năm 1996 có dùng tiền của Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO mua một số căn nhà dưới danh nghĩa các Công ty mà hai bị cáo này làm giám đốc. Định khai Thìn đưa 10 tỷ để mua 4 căn nhà. Thìn cũng khai mình còn một căn nhà nhờ con người chị đứng tên nhưng theo y, tiền mua là do bán một căn nhà cũ chứ không phải vay tiền từ ngân hàng. Kiểm sát viên Hồng Minh Khôi chốt lại: “Như vậy đâu phải toàn bộ tiền vay được là để đảo nợ ngân hàng như bị cáo đã khai”.
Ngọc Văn- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 23 (64)1999.

Quay lưng với phép nước – Phần 2

Còn xây dựng như thế nào, phải do cơ quan có thẩm quyền đứng ra thiết kế, thẩm định. Trong khi giữa bà Hảo và ông Minh chưa giải quyết được việc đền bù do đổ nhà 51, thì khách sạn Thiên Thai 2 của bà Hảo tiếp tục xây lên, tầng 2 làm cho nhà ông Quách Thái Kỳ ở 53 Nguyễn Trường Tộ lún, rạn nứt tường, nền nhà. Ngày 7 tháng 4 năm 1999, ông Kỳ lại gửi đơn ra phường và Văn phòng kỹ thuật sáng tạo thành phố đề nghị giải quyết. Ngày 9 tháng 4 năm 1999, Văn phòng kỹ thuật sáng tạo Thành phố có văn bản số 219/KTST yêu cầu gia đình bà Hảo tạm đình chỉ thi công khách sạn Thiên Thai 2. Hiện lúc đó, công trình đã xây xong tầng 2. Ngay trong biên bản của phường Nguyễn Trung Trực ngày 13 tháng 4 năm 1999 có đoạn… Thời gian qua, gia đình bà Hảo xây dựng, cải tạo nhà 47 + 49 Nguyễn Trường Tộ … chúng tôi thầy nhà ông Kỳ có nguy hiểm, đề nghị ông Kỳ chuyển mẹ già xuống dưới nhà… để bảo đảm an toàn!”. Bất chấp các chỉ thị văn bản, kết luận của các cơ quan có trách nhiệm, ngày 26 tháng 4 năm 1999, bà Hảo tiếp tục cho xây dựng tầng 3 của Khách sạn và chỉ có 9 ngày sau đó ngày 6 tháng 5 năm 1999 bà Hảo lại cho xe ô tô chở xi măng tươi đổ tiếp sàn tầng 4 suốt từ 2 giờ 30 phút đến 5 giờ sáng! Khi được hỏi về những sự việc trên, Phường Nguyễn Trung Trực xử lý như thế nào? Thay cho câu trả lời, ông chủ tịch phường đưa cho chúng tôi xem công văn số 61 ngày 21 tháng 4 năm 1999 của tòa án Ba Đình cũng do chính bà Nguyễn Thị Việt Kiều ký với nội dung tòa án quận Ba Đình chính thức rút yêu cầu đình chỉ xây dựng nhà 47 + 49 Nguyễn Trường Tộ đối với chị Phạm Thị Hảo. Tòa án Ba Đình để nghị các cơ quan chức năng xem xét giải quyết cho chị Hảo tiếp tục thi công công trình…. Phải chăng đây là cái gậy để cho bà Hảo tiếp tục thi công công trình hay sao? Cách giải quyết của phường Nguyễn Trung Trực như trên đã đúng với điều 24 quyết định 2863 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ký năm 1998 hay chưa? Tại sao Kiến trúc sư trưởng thành phố chưa rút quyết định 219 đình chỉ thi công công trình 47 + 49 Nguyễn Trường Tộ đã ký ngày 5 tháng 4 năm 1999 mà bà Hảo vẫn tiếp tục thi công công trình? Rõ ràng bà Hảo đã không tuân thủ pháp luật. Xây dựng khách sạn đổ nhà hàng xóm mà vẫn bình chân như vại, rõ ràng là coi thường pháp luật, coi thường nhân dân mà Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Trung Trực vẫn không hề ngăn chặn, xử lý kiên quyết việc vi phạm pháp luật của bà Phạm Thị Hảo? Chính vì có công văn số 61 trên của Tòa án Ba Đình nên bà Hảo vẫn tiếp tục đổ mái bằng tầng 4. Còn Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Trung Trực vin cớ tòa án đang giải quyết, phường không quan tâm, làm ngơ để bà Hảo tiếp tục xây dựng. Tại sao chỉ trong vòng 20 ngày, Tòa án Ba Đình lại có hai công văn trái ngược với nhau như vậy? Vụ kiện đã kết thúc đâu mà bà Hảo tiếp tục thi công xây dựng? Vụ kiện đã kết thúc đâu mà bà Hảo tiếp tục thi công xây dựng? Tòa án có phải là nơi cấp phép, đình chỉ xây dựng và cho tiếp tục xây dựng đâu mà phường Nguyễn Trung Trực lại làm ngơ cho bà Hảo xây dựng mà không hề có biện pháp xử lý nào khi bà Hảo tiếp tục xây dựng tầng 4. Chính do việc làm đó mà nhà ông Quách Thái Kỳ không những bị nứt nhà ngoài mà bên trong nền nhà bị đùn đất lên, nền gạch bị lở từng mảng. Ông Kỳ có đơn gửi phường, phường không xuống kiểm tra, lại nói ông Kỳ phải thuê cơ quan giám định, nếu nguy hiểm quá thì sơ tán mội người tới nơi an toàn… Vậy trách nhiệm của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Trung Trực đối với việc thực hiện quyết định 2863 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đã ký ngày 5 tháng 6 năm 1998 thì sao đây? Có lẽ, nếu chưa có Công thư của Chủ tịch quốc hội Nông Đức Mạnh gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội về việc trên thì không hiểu việc xây của bà Phạm Thị Hảo sẽ còn đi tới đâu? Tính mạng tài sản của các hộ gia đình ông Nguyễn Quang Minh, Quách Thái Kỳ và những hộ liền kề công trình khách sạn Thiên Thai 2 sẽ như thế nào nếu bà Hảo khinh nhờ “kỷ cương phép nước”, tiếp tục cho thợ xây dựng thi công 7 tầng trên. Trớ trêu thay, ngay khi đã có ý kiến của Chủ tịch Quốc hội gửi xuống thành phố Hà Nội mà bà Hảo vẫn cho thợ đổ cột bê tông chuẩn bị đổ sàn tầng 6 của khách sạn ngày 21 tháng 5 năm 1999.
Văn Phúc- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 22 (63)1999.

Quay lưng với phép nước – Phần 1

(Xung quanh việc xây dựng khách sạn làm đổ nhà, lún nứt các căn hộ liền kề tại 47 + 49 Nguyễn Trường Tộ – Hà Nội).
Kính gửi đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, đồng chí Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội. Tôi đã nhận được đơn của ông Nguyễn Quang Minh, và Quách Thái Kỳ tố cáo việc xây dựng nhà trái phép tại số nhà 47 + 49 Nguyễn Trường Tộ gây sập đổ nhà bên cạnh đã có lệnh đình chỉ của Kiến trúc sư trưởng, nhưng không được thực hiện. Nay chuyển đến để đồng chí xem xét, giải quyết cụ thể theo thẩm quyền, đúng quy định của Pháp luật, Báo cáo cho tôi biết kết quả, đồng thời thông báo cho đương sự. Nông Đức Mạnh – Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Đó là một công thư, là chỉ thị mà cũng là lệnh của Chủ tịch Quốc hội trước một việc nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của nhân dân và đang diễn ra ngya ở một phường trung tâm của Hà Nội, cách nơi Quốc hội đang họp chỉ hơn 1 nghìn mét. Ấy thế mà, chỉ 9 ngày sau ngày 21 tháng 5 năm 1999 và cũng ngay sau ngày khi Ủy ban nhân dân quận Ba Đình họp các ban ngành để giải quyết việc này ngày 20 tháng 5 năm 1999, thì chủ công trình nhà 7 tầng là ông Nguyễn Đức Khai và bà Phạm Thị Hảo ở nhà số 47 + 49 Nguyễn Trường Tộ vẫn tiếp tục cho thi công đổ cột bê tông, chuẩn bị đổ sàn tầng 6 của khách sạn. Tại sao lại có chuyện coi thường kỷ cương phép nước như vậy? Tại sao các cơ quan hữu trách của thành phố lại không kiên quyết ra tay đối với những việc làm sai trái? Như mọi người đã biết, khoảng 17 giờ, ngày 11 tháng 3 năm 1999, ngôi nhà 2 tầng ở 51 Nguyễn Trường Tộ, quận Ba Đình đổ sập. Toàn bộ gạch, ngói đỗ, của ngôi nhà cổ hơn 100 mét vuông bắn tung tóe ra phố gây ùn tắc giao thông. Chính thời gian này do ngoài giờ hành chính nên không thấy cán bộ, cơ quan chính quyền phường sở tại nào có mặt ở hiện trường. Ông Nguyễn Đức Khai và bà Phạm Thị Hảo chủ khách sạn Thiên Thai 2, người đang trực tiếp chỉ đạo thi công công trình 7 tầng tại số 47 + 49 Nguyễn Trường Tộ vội vàng thuê thợ thu dọn đóng gạch, ngói ngổn ngang của căn nhà 51 đó. Mãi đến 21 giờ cùng ngày chủ căn nhà 51 là ông Nguyễn Quang Minh đi vắng mới biết tin và chính vì người trong căn nhà 51 đi vắng hết nên không ai bị thiệt mạng. Nguyên nhân làm căn nhà 51 bị đổ, nhà 53 bị lún, nứt và một số nhà liền kề khác bị ảnh hưởng là do chủ công trình khách sạn Thiên Thai 2 tại số 47 + 49 Nguyễn Trường Tộ khi thi công không có biện pháp bảo vệ an toàn, gia cố móng cho các hộ liền kề vì các hộ từ số nhà 43 đến số nhà 59 Nguyễn Trường Tộ đều là nhà cũ, từ thời thuộc Pháp, xây dựng chung móng nên khi đào móng, ép cọc xây dựng công trình nhà cao tầng đã gây sập nhà, lún nứt các hộ nhà liền kề. Đó là việc đã xảy ra! Còn cách giải quyết và xử lý đối với chủ công trình 47 + 49 Nguyễn Trường Tộ thì sao? Sau các cuộc họp ngày 12 tháng 3 năm 1999, ngày 19 tháng 3 năm 1999 và ngày 27 tháng 3 năm 1999 của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Trung Trực với chủ công trình là ông Nguyễn Đức Khai và và Phạm Thị Hảo cùng chủ hộ nhà bị sập là ông Nguyễn Quang Minh và chủ hộ nhà 53 là ông Quách Thái Kỳ đều không thành do thái độ không thiện chí của ông Khai và bà Hảo và dự toán đền bù thiệt hại đối với các ông Nguyễn Quang Minh không thỏa đáng. Gia đình ông Minh tiếp tục kêu đơn đi các nơi. Trong khi đó, gia đình ông Khai, bà Hảo vẫn tiếp tục thi công xây dựng khách sạn Thiên Thai. Còn Ủy ban nhân dân phường sở tại cũng chẳng có đề nghị gì về việc đổ nhà trên với Ủy ban nhân dân quận Ba Đình hay Văn phòng kỹ thuật sáng tạo Thành phố. Ngày 31 tháng 3 năm 1999, sau khi nhận được đơn kiện bà Hảo ra tòa đòi bồi thường phần thiệt hại do đổ nhà ông Nguyễn Quang Minh, bà Nguyễn Thị Việt Triều chánh án tòa án quận Ba Đình đã ký công văn số 42/TABĐ gửi các cơ quan chức năng có đoạn “… Trong quá trình xem xét, giải quyết vụ kiện, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự, Tòa án quận Ba Đình đề nghị các cấp có thẩm quyền đình chỉ công trình xây dựng nhà 47 + 49 của chị Phạm Thị Hảo để chờ tòa án giải quyết đến khi vụ kiện kết thúc”. Ngày 5 tháng 4 năm 1999 Văn phòng kỹ thuật sáng tạo thành phố, tòa án quận Ba Đình và các cơ quan có trách nhiệm quận Ba Đình đã họp và quyết định gia đình bà Hảo làm đổ nhà của gia đình ông Minh thì phải xây dựng lại.
Văn Phúc- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 22 (63)1999.

Kích cầu nhưng phải đủ mạnh

(Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa X)
Hướng mạnh về nông thôn, tập trung cao vào vấn đề nông nghiệp nông thôn là mục tiêu quan trọng đã được quán triệt tại Hội nghị Trung ương lần VI kỳ hợp lần 1. Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X nhiều ý kiến của các đại biểu đã tập trung vào vấn đề giải pháp kích cầu trong khu vực nông thôn. Sau đây, chúng tôi xin ghi lại một số ý kiến.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Tri – Tỉnh Thanh Hóa: “Chúng tôi tán thành rất cao việc tạo lập cơ chế giải pháp kích cầu. Việc này vừa đáp ứng một thực trạng là nông thôn ngày nay đang rất cần vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng. Chính việc tăng khả năng xây dựng cơ ở hạ tầng về kích thích việc thiêu thụ sản phẩm của Nhà nước và của các doanh nghiệp Nhà nước… Như vấn đề kiên cố hóa hệ thống kênh mương và giao thông nông thôn. Ở Thanh Hóa đến năm 1998 toàn tỉnh Thanh Hóa đã làm được 452 km kênh mương với kinh phí đầu tư khoảng 174,5 tỷ đồng, riêng kênh mương liên huyện, liên xã đạt được 253 km với kinh phí là 148,7 tỷ đồng, riêng kênh mương nội đồng của nửa năm 1998 đã có 39 đơn vị, 9 huyện thị và thành phố làm được 28,5 km kênh mương. Nhưng khi tổng kết thì thấy khó khăn vì có chủ trương là tỉnh chỉ hỗ trợ mỗi km từ 30 đến 40 tấn xi măng, tương đương với 24 triệu đến 25 triệu đồng, trong khi tính bình quân để có được 1 km kênh mương ở đồng bằng phải cần khoảng 150 triệu đồng đến 180 triệu đồng. Việc kiên cố hóa kênh mương vừa tiết kiệm điện, nước,đất, chủ động tưới tiêu hơn, chúng tôi kiến nghị Nhà nước hỗ trợ mỗi km kênh mương lên khoảng 1 phần 3 kinh phí, tức là khoảng 70 tấn đến 80 tấn xi măng… Đây là việc làm cần thiết vì sẽ rất có hiệu quả…”.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thu Hồng – Tỉnh Thừa Thiên Huế: “Chúng tôi bày tỏ sự đồng tình với chủ trương kích cầu để tập trung vào phát triển nông nghiệp, nông thôn. Với 6 chương trình cụ thể là kiên cố hóa kênh mương thủy lợi, hệ thống đê sông, đê biển, đường giao thông, nước sạch, nhà ở và điện là những vấn đề hết sức cần thiết và thiết thực, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cử tri cả nước, đặc biệt là nông thôn. Tuy nhiên, Chính phủ nên có báo cáo cụ thể để thấy rõ hơn mức độ khả thi của giải pháp này, vấn đề là phải làm như thế nào và lấy nguốn vốn ở đâu?… Theo báo cáo của Chính phủ thì đây là một trong những lý do cơ bản để chính phủ đề nghị Quốc hội cho phép điều chỉnh tỷ lệ bội chi ngân sách lên không quá là 5%. Chúng tôi nghĩ nếu chúng ta mạnh dạn chấp nhận một tỷ lệ bội chi với tỷ lệ cho phép được trong 1 năm đến 2 năm để nông nghiệp, nông thôn sản xuất được phát triển tăng nguồn tiêu thụ, giải quyết được mâu thuẫn giữa cung đang thừa và nhu cầu đang thiếu thì chắc chắn vẫn tốt hơn nhiều so với việc phải chịu cung thừa không phát triển được năng lực sản xuất trong nước. Trong lúc đó nhiều nhu cầu bức xúc, chính đáng của nhân dân vẫn không được giải quyết.
Đại biểu Quốc hội Trần Văn Tuyền – Tỉnh Bến Tre: Vấn đề này cấp bách hiện nay là phải chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn. Trước mắt phải tập trung đầu tư để phát triển hệ thống thủy lợi, ngăn mặn, dẫn nước ngọt giải quyết tốt nhu cầu về nước ngọt cho sản xuất, cho các vùng dân cư…Đây là một vấn đề lớn, vừa có ý nghĩa chính trị, xã hội cấp bách. Theo tôi nghĩ thì không nên để chậm trễ và càng không thể thực hiện bằng cách đầu tư từng bước, nhỏ giọt, phân tán như hiện nay. Ngoài ra việc đầu tư phát triển nhanh hệ thống thủy lợi cần tập trung sức đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế ở nông thôn, trong đó việc đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm xá… Cần được giải quyết nhanh hơn để tạo điều kiện cho kinh tế xã hội ở nông thôn phát triển, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa,…”.
Công ty xi măng Hoàng Thạch: Bốn tháng, tiết kiệm 1,3 tỷ đồng tiền điện
Nhờ thực hiện, nhiều biện pháp quản lý và kỹ thuật, 4 tháng đầu năm nay, công ty xi măng Hoàng Thạch, đã tiết kiệm được 1,3 tỷ đồng tiền điện. Công ty chỉ đạo các phân xưởng sản xuất thực hiện các biện pháp tiết kiệm điện bằng việc tăng cường sử dụng điện vào giờ thấp điểm và vận hành thiết bị hoạt động với năng suất cao. Các phân xưởng nghiền nguyên liệu, nghiền than, nghiền xi măng bố trí lực lượng cán bộ và công nhân kỹ thuật tập trung vận hành thiết bị hoạt động vào ca 3 giờ thấp điểm của lưới điện. Công ty còn thực hiện các giải pháp kỹ thuật như sử dụng chất trợ nghiền để tăng 50% năng suất máy nghiền xi măng, cải tiến cách xây gạch lò nung, ổn định chế độ phối liệu để kéo dài thời gian chạy lò và tăng 10% năng suất lò nung.
Vĩnh Long: Còn nhiều vi phạm trong xây dựng cơ bản
Từ đầu năm đến nay, Thanh tra sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Long đã tổ chức 105 lượt kiểm tra các công trình xây dựng cơ bản, phát hiện 97 trường hợp vi phạm, xử lý cảnh cáo 32 công trình và phạt tiền 65 công trình vi phạm. Tình hình vi phạm trong xây dựng phần lớn chưa hoàn thành thủ tục xây dựng cơ bản đã khởi công xây dựng công trình nằm trong khu quy hoạch, xây dựng vi phạm hành lang an toàn lưới điện. Một số cơ quan, xí nghiệp cho mượn đất công để xây dựng nhà cá nhân… phòng thanh tra sở xây dựng đã thường xuyên tổ chức nhiều đợt kiểm tra, kịp thời phát hiện xử lý các trường hợp vi phạm. Tuy nhiên mức phạt tiền đối với các vi phạm còn thấp nên chưa có tác dụng đối với các chủ công trình.
Ngọc Ly- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 22 (63)1999.

Ngân hàng rỗng vì sâu mọt

Theo các chuyên gia tài chính ngân hàng, mặc dù các qui định pháp luật liên quan đến nghiệp vụ tín dụng ngân hàng trước đây chưa thật chặt chẽ song việc tìm những kẻ hỡ của nó để moi tiền Nhà nước quả thật không đơn giản. Tăng Minh Phụng, Thìn làm được là do ngành ngân hàng có sâu mọt và két sắt nhà nước rỗng vì những con sâu mọt đục khoét. Sự hiện diện của Phạm Nhật Hồng, Nguyễn Ngọc Bích cùng 16 cán bộ ngân hàng khác trước vành móng ngựa hôm nay phải chăng chỉ là phần nổi của tảng băng chìm? Số báo trước chúng tôi đã đề cập một trong những các thủ đoạn rút ruột ngân hàng của Tăng Minh Phụng và đồng bọn là lập ra thật nhiều các công ty con, độc lập hoàn toàn với 2 công ty mẹ là Minh Phụng và EPCO bởi các công ty này có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, tài khoản riêng rồi dùng tư cách của chúng để vay tiền. Số Công ty loại này, Công ty mẹ Minh Phụng đẻ 12 con, Công ty mẹ EPCO đẻ 8 con. Bên cạnh đó Tăng Minh Phụng cùng Nguyễn Đình Trúc phó giám đốc Công ty Minh Phụng bàn nhau vừa thuê pháp nhân của các Công ty Trách nhiệm hữu hạn có sẵn đang ngắc ngoải, vừa mượn tay các thuộc hạ này để thêm ra các công ty mới hoặc mượn pháp nhân của các công ty nhà nước hẳn hoi như Đất Việt, Grainco… để moi thật nhiều tiền Nhà nước. Tăng Minh Phụng còn mượn hàng hóa, giấy tờ ủy quyền về nhà đất, hợp đồng thuê đất, thuê xưởng… để thế chấp vay tiền. Chẳng hạn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hòa Hiệp đang nợ ngân hàng không có khả năng thanh toán, Tăng Minh Phụng bèn cho vay tiền để Hòa Hiệp trả nợ. Nguyễn Hồng Hải phó giám đốc côn gty này chịu ơn bèn ủy quyền cho Bảy Phụng 9 căn nhà để Tăng Minh Phụng thế chấp cho ngân hàng, và từ đó Hòa Hiệp không kinh doanh gì mà chỉ đi vay tiền thuê cho Tăng Minh Phụng , ăn phí khoảng 0,2% trên số tiền vay được. Tiếp đó, Hải còn mượn tiền của Tăng Minh Phụng ký quỹ thành lập công ty Trách nhiệm hữu hạn Tín Đạt và 4 công ty nữa để chuyên vay tiền. Với cách thức tìm các công ty Trách nhiệm hữu hạn đang ngắc ngoải để đàm phán với giám đốc rằng Tăng Minh Phụng sẽ cho mượn tiền trả nợ, đổi lại công ty phải làm giây ủy quyền tài sản của mình để công ty Minh Phụng thế chấy vây tiền ngân hàng với thỏa thận tiền vay được phải chuyển vào cho công ty Minh Phụng, Công ty vay được hưởng phí vay hộ, chỉ trong 15 tháng từ tháng 1 năm 1996 đến tháng 3 năm 1997 Nguyễn Hồng Hải và Phạm Phú Lộc giám đốc của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Khai Minh đã trực tiếp sang nhượng, thành lập và điều hành 11 công ty con rút tiền ngân hàng bằng nhiều thủ đoạn gian dối, giúp cho Tăng Minh Phụng chiếm đoạt của ngân hàng ICBV – Thành phố Hồ Chí Minh và ngân hàng VCB – Thành phố Hồ Chí Minh là 906 tỷ đồng chưa kể 27 tỷ phí bảo lãnh và lãi, để nhận được 3,3 tỷ đồng Tăng Minh Phụng trả công. Tương tự, Trần Quang Hiệp giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hiệp Ý mượn tiền của Tăng Minh Phụng thành lập thêm 5 công ty Trách nhiệm hữu hạn chiếm đoạt của ngân hàng gần 465 tỷ đồng, Huỳnh Văn Út thành lập 6 công ty Trách nhiệm Hữu Hạn rút cho Tăng Minh Phụng gần 292 tỷ đồng chưa kể 11 tỷ phí bảo lãnh và lãi. Tính chung chỉ với 12 công ty do Tăng Minh Phụng trực tiếp thành lập, 22 công ty mượn tiền thành lập để làm dịch vụ và thuê tư cách pháp nhân của các công ty khác, Tăng Minh Phụng và đồng bọn đã chiếm đoạt của Ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và Ngân hàng VCB – Thành phố Hồ Chí Minh với 3.166 tỷ đồng. Ngoài ra, Tăng Minh Phụng và vợ là giám đốc Công ty Phương Nghi còn dùng 5 bất động sản như nhà, đất, lập mỗi loại 2 bộ hồ sơ thế chấp cho nhiều ngân hàng chiếm đoạt của nhà nước là 20 tỷ đồng. Công ty Trách nhiệm hữu hạn EPCO có một thời được quảng cáo rùm beng là mô hình mới của doanh nghiệp Việt Nam bởi tính chất nửa nạc nửa mỡ chẳng ra doanh nghiệp Nhà nước cũng chẳng ra doanh nghiệp của tư nhân, công ty này do Ủy ban nhân dân quận 3 – Thành phố Hồ Chí Minh đẻ ra và góp vốn miệng là 50% tương đương với 2,5 tỷ đồng. Sau khi Tăng Minh Phụng mua lại 36% vốn điều lệ với giá là 15 tỷ đồng của EPCO và được cử giữ chức phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, Phó giám đốc, đến tháng 12 năm 1994, Tăng Minh Phụng cùng Ủy ban nhân dân quận 3 mặc dù góp vốn miệng vẫn nhượng lại 25% phần hùn cho Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam với giá hơn 40 tỷ 510 triệu đồng bằng 3.750 triệu đô la Mỹ. Sau khi sự kiện này ông Bùi Thế Uông, Phó Tổng giám đốc Vietcombank được bầu làm Phó chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm phó giám đốc EPCO. Theo cáo trạng, việc mua bán cổ phần này của Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam là hành vi trái pháp luật nhằm kéo dài món nợ vay ngân hàng mà EPCO không trả được. Cáo trạng nhận định tháng 8 năm 1995 EPCO có số dư nợ tại Ngân hàng ICBV – Thành phố Hồ Chí Minh rất lớn là 67,44 tỷ đồng và 40,189 triệu đô la Mỹ số đã được làm tròn và đều là nợ vây ngắn hạn, trung hạn. Dù biết vậy, Phạm Nhật Hồng và đồng bọn không tìm cách thu nợ mà trái lại vẫn tiếp tục chỉ vẽ cho Thìn cách rút tiền ngân hàng thông qua các hợp đồng bảo lãnh nhập hàng trả chậm nước ngoài.
Kim Tiến- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 21 (62)1999.

Vì sao hồ sinh học cam ly – đà lạt chưa thi công được?

Đà Lạt vốn là một thành phố xanh – sạch – đẹp. Thời gian gần đây, độ ô nhiễm trong các nguồn nước ở hệ thống suối, hồ của Đà Lạt đang có nhiều hướng tăng nhanh. Vì vậy, năm 1996 ý tưởng xây dựng một số hồ sinh học trên suối Cam Ly ở địa bàn phường 5 thành phố Đà Lạt nằm ở hạ lưu Hồ Xuân Hương ra đời và nhanh chóng được lãnh đạo các cấp ủng hộ. Thế nhưng cái dự án đã được phê duyệt đó đang đứng trước nguy cơ không còn tính khả thi. Tại sao như vậy? Đây chính là điều quan tâm của đông đảo nhân dân thành phố Đà Lạt.
Hồ sơ Thiết kế không đầy đủ
Triển khai thực thi ý tưởng xây dựng hồ sinh học Đà Lạt, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt cho Ban quản lý các dự án Xây dựng cơ bản của thành phố Đà Lạt làm chủ dự án này. Ngay sau đó, các hoạt động khảo sát, xúc tiến lập hồ sơ dự án được triển khai khá tốt. Tuy nhiên một thời gian sau vai trò của chủ dự án công trình này được bàn giao lại cho Công ty quản công trình đô thị Đà Lạt mà theo Công ty này thì không biết vì lý do gì. Công ty quản lý công trình đô thị Đà Lạt đã hoàn tất việc lập dự án khả thi trong một thời gian ngắn. Ngày 7 tháng 11 năm 1997, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng có quyết định số 1702/QĐ-UB phê duyệt đầu tư dự án khả thi “Điều tra cơ bản môi trường sinh thái và xây dựng mô hình đa dạng sinh học hồ sinh vật Cam Ly thành phố Đà Lạt. Theo quyết định này, diện tích hồ là 35 nghìn mét vuông và diện tích đường quanh hồ là 4.500 mét vuông. Tổng kinh phí được duyệt là 6.569.398 nghìn đồng thực hiện trong 2 năm từ năm 1997 đến năm 1998. Công ty tư vấn công nghệ thiết bị và kiểm định xây dựng thuộc Bộ Xây dựng là đơn vị được thuê thiết kế kỹ thuật công trình. Tháng 6 năm 1998, hồ sơ thiết kế kỹ thuật công trình. Tháng 6 năm 1998, hồ sơ thiết kế kỹ thuật được gửi đến các ban ngành chức năng của tính thẩm định đã không thực hiện được vì theo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Tỉnh Lâm Đồng thì hồ sơ thiếu quá nhiều những tài liệu quan trọng như: Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án, thuyết minh thiết kế kỹ thuật thi công, bản vẽ chi tiết để thi công phần cốt thép một số hạng mục chính, phương án đầu tư… Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có công văn yêu cầu chủ đầu tư bổ sung hồ sơ. Sau khi chủ đầu tư bổ sung những thiếu sót trên mặc dù chưa đầy đủ, ngày 9 tháng 10 năm 1998 một cuộc họp thẩm định đã được tiến hành với sự có mặt của đại diện Sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Xây dựng, Sở Khoa học công nghệ và môi trường Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt và Công ty quản lý công trình đô thị Đà Lạt. Kết quả thẩm định là chưa thể thi công xây dựng hồ được.
Đâu là những vướng mắc?
Vấn đề đầu tiên ở đây là thiết kế hồ mới chỉ đơn thuần là hồ sinh học mà không tính đến vấn đề xả lũ của Hồ Xuân Hương một dòng chảy chính tập trung hầu hết mọi nguồn nước trên địa bàn Đà Lạt. Tần suất thiết kế công suất là 20% là điều không thể chấp nhận được và phải thiết kế lại công suất là 2% ứng với công trình cấp 5. Việc thay đổi tần suất này để đáp ứng được yêu cầu thực tế sẽ buộc phải thay đổi hầu như toàn bộ kết cấu công trình. Và theo đó, tổng kinh phí sẽ phải tăng lên khoảng 50% so với dự toán đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng phê duyệt. Cùng với thay đổi về kết cấu công trình, theo báo cáo số 1276/BC-NN ngày 15 tháng 10 năm 1998 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng về kết quả thẩm định hồ sơ thì thiết kế này còn có nhiều vấn đề hạn chế như sẽ gây ngập lụt vùng thượng lưu hồ sinh học, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong khu vực, việc sục khí khử mùi hằng ngày chưa được đánh giá mức độ ô nhiễm và tiếng ồn tới môi trường dân cư xung quanh và chưa có biện pháp hạn chế, rác và chất thải vào ngăn số 1 gây ra mùi hôi thối thế nhưng chưa có biện pháp xử lý, chi phí quản lý và vận hành hàng năm cao với 445 triệu đồng cho một năm, đồ án chưa có thể nói đây là những vướng mắc rất lớn cần phải được tháo gỡ thì mới tính đến việc triển khai thi công xây dựng hồ. Tuy nhiên vướng mắc lớn nhất có tính quyết định việc xây dựng hay không xây dựng được hồ đó là khoảng cách ly tối thiểu của hồ với khu dân cơ xung quanh. Trong báo cáo số 1276 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn có nêu: Căn cứ theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam ban hành theo quyết định số 682/BXD-CSXD ngày 14 tháng 12 năm 1996 của Bộ Xây dựng thì phạm vi cách ly tối thiểu đối với hồ sinh học là phải 200 mét. Trong khi đó khoảng cách ly trong thiết kế đang xin trình thẩm định chỉ có 5 mét. Ngày 11 tháng 3 năm 1999 Sở xây dựng Tỉnh Lâm Đồng cũng có công văn số 239/CV-XD nêu lại vấn đề này và yêu cầu đơn vị thiết kế phải có giải pháp kỹ thuật xử lý nước thải. giải pháp đó phải được các cơ quan chức năng Bộ Khoa học và Công nghệ – môi trường và Bộ Xây dựng xác nhận đạt yêu cầu, bảo đảm không cần khoảng cách ly theo quy định chung hoặc đạt được mức có thể thu hẹp khoảng cách ly so với quy định chung. Nếu các đơn vị tư vấn không tìm được giải pháp kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của dự án như đã nói trên, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng xem xét lại dự án. Như vậy để có thể triển khai xây dựng được hồ cần phải có giải pháp kỹ thuật được chấp nhận hoặc phải làm khoảng cách ly theo đúng quy định chung.
Mạc Vấn- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 21 (62)1999.

Hè này trẻ chơi ở đâu

Khủng hoảng thiếu nơi vui chơi chơi cho trẻ, vấn đề tưởng chừng xưa như trái đất nhưng lại luôn là vấn đề thời sự bức xúc của toàn xã hội. Đặc biệt mỗi kỳ vào hè, người lớn lại bối rối hỏi nhau: trẻ vui chơi ở đâu? Thông thường, trẻ vui chơi ở các công viên, vườn hoa, các Cung thiếu nhi, nhà thiếu nhi… Nhưng không phải trẻ nào cũng có điều kiện đến những nơi đây bởi quỹ thời gian và quỹ… tiền của bố mẹ. Trong những năm tới các dự án về khu vui chơi giải trí lần lượt được triển khai, các công viên, vườn hoa được nâng cấp, cải tạo thành những điểm kinh doanh vui chơi giải trí, liệu trẻ có tiền mua vé vào cửa với giá từ 10 nghìn đồng đến 15 nghìn đồng không? Vì thế mà vườn hoa, công viên không phải là nơi dành riêng cho mọi trẻ. Còn chơi ở các cung, nhà thiếu nhi dưới sự phụ trách của tổ chức Đoàn, tất nhiên là phù hợp với trẻ. Ở đây ngoài vui chơi, rèn luyện sức khỏe, nâng cao thể chất, trẻ còn có thể tham gia vào các lớp giáo dục năng khiếu, các trung tâm phương pháp công tác đội. Nhưng tính đến nay, cả nước mới chỉ có 226 cung, nhà thiếu nhi cấp tỉnh, thành, quận, huyện. Nếu so với số lượng trên 40 triệu thanh thiếu nhi (trong đó thiếu nhi ở độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi là 16 triệu đồng) thì số cung, nhà thiếu nhi kể trên thật là khiêm nhường. Chỉ có khoảng 12% số trẻ được học tập, rèn luyện, sinh hoạt vui chơi giải trí khác sau giờ học tập, lao động giúp gia đình không có nơi giải trí… Cũng không phải bỗng chốc mà người lớn có thể bỏ ra cả buổi để đưa trẻ đi từ 5 km đến 6 km đến công viên hay nhà thiếu nhi. Vì vậy xem ra, nơi vui chơi cho trẻ em tại cộng đồng là hợp lý nhất. Một khoảng đất trống, sân chung khu tập thể, sân kho đầu làng… đều có thể trở thành nơi thu hút trẻ đến chơi bóng, nhảy dây, chơi cờ, chơi cầu lông… Tuy nhiên, hiện nay, các điểm vui chơi này hầu như chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Tính riêng ở Hà Nội có 1390 điểm vui chơi, nhưng chỉ có 70% điểm hoạt động được 30% điểm có đầu tư ở mức tối thiểu một số cầu trượt, bập bênh… Hà Nội còn vậy, thì ở các địa phương khác chắc chắn nghèo nàn ít ỏi hơn nhiều. Còn ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi, nơi vui chơi cho trẻ gần như không có. Trẻ chơi theo kiểu tự phát, tự chơi, tự học, tự lớn… Đã nghèo nàn, ít ỏi như thế, các điểm vui chơi cho trẻ như sân chơi ở nhiều phường, khu tập thể, thôn xóm còn bị lấn chiếm làm nhà, xây cửa hàng cửa hiệu phục vụ hoạt động kinh doanh. Mặc dù tại khoản 3, điều 11 Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em ghi rõ “Nghiêm cấm sử dụng những cơ sở vật chất, phương tiện công cộng dành cho học tập, vui chơi giải trí của trẻ em vào mục đích khác, nhưng thực trạng lấn chiếm vẫn diễn ra ở mọi nơi mọi lúc. Không ít rạp hát, sân chơi dành riêng cho thiếu nhi bị sử dụng sai mục đích. Tính riêng Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 30 nghìn mét vuông sân chơi bị chiếm, sử dụng sai mục đích. Còn ở Hà Nội, tình trạng cũng không sáng sủa hơn. Các nhà thiếu nhi quá tải, chỉ đáp ứng nhu cầu là 2,5% số trẻ. Sân chơi hầu như không có. Cuối cùng trẻ đành tự lựa chọn cách chơi, sân chơi đólà lề đường, hè phố, thậm chí ngang giữa lòng đường để rồi người lớn vẫn cứ phải đau lòng khi hay tin trẻ mải chơi trên đường gây ra tai nạn giao thông, trẻ bị gầy chân, gẫy tay do trèo cây cối, trẻ bị chết đuối do tắm ở ao hồ… Cái khó trong việc bảo vệ các điểm vui chơi giải trí này lại chính bởi yếu tố các điểm vui chơi chưa được xác định trong quy hoạch phát triển đô thị… Xem ra, cứ đà này, việc lấn chiếm các điểm vui chơi của con trẻ còn diễn ra dài dài. Vậy phải giải quyết vấn đề vui chơi giải trí của trẻ như thế nào? Theo mục tiêu của Hội đồng Đội Trung ương, đến hết năm 1999, phấn đấu xây dựng thêm ít nhất là 50 nhà thiếu nhi với quy mô và trang thiết bị tương ứng, đáp ứng được nhu cầu vui chơi ngày càng cao của trẻ. Mỗi nhà thiếu nhi phải có ít nhất là 2 điểm vui chơi cấp phường, xã và đẩy nhanh việc phát triển các điểm vui chơi tại cộng đồng… Muốn thực hiện được mục tiêu này, trách nhiệm không chỉ thuộc về các tổ chức Đoàn, Đội, các Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, mà nó còn thuộc về các cấp ủy, chính quyền và toàn dân các điểm vui chơi cho thiếu nhi vẫn là tiền đóng góp vận động trong nhân dân và một phần kinh phí do chính quyền địa phương hỗ trợ. Ngoài ra ở khía cạnh xây dựng, cần phải đưa các điểm vui chơi cho trẻ em vào quy hoạch phát triển đô thị, phải có văn bản pháp quy dành một tỷ lệ đất đai làm nơi vui chơi cho trẻ, tránh tình trạng như hiện nay, có tiền nhưng không có quỹ đất xây dựng, có điểm vui chơi nhưng không có đủ thủ tục pháp lý, bảo vệ, chống lấn chiếm hoặc tùy tiện sử dụng vào mục đích khác. Hy vọng rằng với tinh thần “Nhân loại phải tự cho mình cái quyền, dành cho trẻ em nhiều nhất cái mà mình có” của cả cộng đồng, vấn đề nơi vui chơi cho trẻ sẽ sớm được cải thiện.
Vũ Tâm- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 21 (62)1999.

Đừng để cái sảy nảy cái ung

Ngày 5 tháng 5 năm 1999, Báo xây dựng nhận được đơn thư của anh Nguyễn Trọng Bách là con liệt sĩ Nguyễn Trọng Mẫu và vợ là Hoàng Thị Bình, cư trú tại đội 1 thôn Tả Thanh Oai xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, phản ánh việc ngày 28 tháng 4 năm 1999, một số người trong khu tập thể nhà máy cơ khí 75, Tổng công ty đường sông miền Bắc, Bộ Giao thông vận tải đã vô cớ dùng sức mạnh đông người áp đảo, tổ chức xây dựng tường, bịt cửa, nơi dùng để bán hàng ăn sáng như bún cua, ốc của gia đình. Việc này nếu không được giải quyết sớm, sẽ đẩy gai đình vào tình thế khó khăn vì vừa mất nguồn thu nhập chính, vừa bị đe dọa, ức chế về tinh thần…. Sau khi nhận được thư bạn đọc, Báo Xây dựng đã cử phóng viên về xã Tả Thanh Oai, trực tiếp làm việc với hai đồng chí Phạm Ngọc Hòa, chủ tịch Ủy ban nhân dân và Lê Tuấn Anh, cán bộ địa chính xã, được biết ngôi nhà của vợ chồng anh Bách vốn dĩ lâu nay đã có hai cửa một mở ra đường trục chính của xã, một mở ra đường ngõ xóm lối đi vào khu tập thể nhà máy cơ khí 75. Do cửa thông ra ngõ xóm làm bằng gỗ, lâu ngày đã ải mục nên vợ chồng anh Bách cho mở rộng thêm, thay cánh gỗ bằng cánh cửa sắt (cửa xếp). Lấy lý do để đảm bảo an ninh ngày 28 tháng 4 năm 1999, một số người trong khu tập thể nhà máy cơ khí 75 đã không cho vợ chồng anh Bách mở cửa ra đường vì họ cho rằng đây là đường riêng của khu tập thể, muốn làm gì thì làm, đồng thời dùng số đông áp đảo, tổ chức xây tường bịt cửa nhà anh Bách. Thân cô thế cô, đồng thời là người hiểu biết luật pháp, vợ chồng anh Bách đã tránh xô xát và làm đơn báo với chính quyền xã. 15 giờ chiều ngày 28 tháng 4 năm 1999, đại diện chính quyền sở tại đã xuống hiện trường lập biên bản đình chỉ xây dựng. Các bên trong đó có trưởng ban đại diện khu tập thể nhà máy cơ khí 75 đã ký biên bản. Nhưng ngay sau đó, khu tập thể nhà máy cơ khí 75 lại tổ chức xây dựng, gia đình anh Bách lại báo xã. Hôm sau hồi 11 giờ 30 phút ngày 29 tháng 4 năm 1999, đại diện chính quyền địa phương lại xuống hiện trường. Lúc này, hai cột áp sát lưu không chợ Tó, cao 1,5 mét và một bức tường 110, dài 12 mét đã hình thành, bịt ngang cửa nhà anh Bách. Biên bản lại được lập với nội dung “xây tường rào khu cổng ngõ lối vào khu tập thể nhà máy cơ khí 75, vi phạm Nghị định 48/CP và yêu cầu khu tập thể nhà máy cơ khí 75 cho đình chỉ việc xây dựng, chờ các cấp có thẩm quyền giải quyết”. Ông Nguyễn Văn Thắng Trưởng ban quản trị khu tập thể nhà máy cơ khí 75 thêm một lần ký biên bản. Nhưng, lợi dụng hai ngày nghỉ lễ là ngày 30 tháng 4 và ngày 1 tháng 5 liền kề, khu tập thể nhà máy cơ khí 75 vẫn cố tính tổ chức xây hoàn chỉnh cổng trụ và bức tường cao hơn, dài hơn có trát vữa, quét vôi ve, bịt kín toàn bộ cửa nhà anh Bách và gắn biển khu tập thể Nhà máy cơ khí 75. Rõ ràng việc làm của một số người ở khu tập thể nhà máy cơ khí 75 là cố tình áp đặt đối với gia đình anh Nguyễn Trọng Bách, coi thường ý kiến của chính quyền sở tại và vi phạm pháp luật. Không chấp nhận sự đã rồi như thế, trong thời gian luật định, chính quyền xã Tả Thanh Oai sẽ tổ chức cưỡng chế, phục hồi nguyên trạng nếu một số người không tự giác tháo dỡ bức tường đã xây. Báo xây dựng hoan nghênh tinh thần trách nhiệm và hướng giải quyết tích cực của Ủy ban nhân dân xã Tả Thanh Oai và mong muốn sự việc được giải quyết nhanh, dứt điểm, tránh những hậu quả đáng tiếc do để vụ việc kéo dài, cái sảy nảy cái ung…
Mại dâm kế và mưu giành ghế
Vụ án xảy ra trong ngành kiểm sát tỉnh Hải Dương đã khép lại hơn một tháng nhưng dư âm của nó cứ day dứt mãi trong tâm trí mọi người. Vụ việc không lớn, chưa đến mức giết người song thật đau đớn cho một ngành bảo vệ pháp luật. Họ không đến mức là những kẻ vô học, thế mà sao chúng lại thất đức, thất nhân tâm, tàn bạo đến thế. Lưu manh đến thế! Chỉ vì cái ghế, dân gian có câu ghế ít đít nhiều… Mưu toan hạ thủ người dự kiến được tiến cử phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Nguyễn Huy Giang phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, đã bày trò mại dâm kế, giăng bẫy đưa Nguyễn Thanh Bình – Trưởng phòng kiểm sát xét xử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh vào tròng. Đồng bọn của Giang dở trò bẩn thỉu để có những tấm hình, thước phim do chúng dàn dựng nhằm đánh gục Bình về sự tha hóa, lối sống đồi trụy. Nếu kế mại dâm thành công, cái ghế phó viện trưởng cấp tỉnh nghiễm nhiên đến với y… Họ đều là những kẻ có học, đều là đảng viên, lại làm nhiệm vụ giữ trọng trách cầm cần công lý, là “Bao Công” thời nay… vậy mà họ lại táng tán tận lương tâm để mưu đồ cá nhân, ám hại nhau, ám hại đồng nghiệp cũng có nghĩa là ám hại dân, gây tổn hại đến thanh danh, uy lực của ngành bảo vệ pháp luật. 21 năm tù giành cho nhóm người mưu toan mại dâm kế để đoạt ghế chưa hẳn làm nguôi day dứt nhân tâm.
PV- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 19 (60)1999.