Lưu trữ hàng tháng: Tháng Tám 2016

Kẻ tham ô và đồng lõa ắt phải bị trừng trị

Công ty bột giặt và mỹ phẩm Nha Trang thành lập ngày 23 tháng 10 năm 1986 theo quyết định của ủy ban nhân dân tỉnh, lúc đầu mang tên xí nghiệp xà phòng vẻn vẹn chỉ có 5 triệu đồng do sở công nghiệp đầu tư và được công ty bột giặt Miền Nam hỗ trợ cho 10 tấn bột giặt viso làm vốn. Đến năm 1990, khi chuyển sang cơ chế thị trường, để mở rộng sản xuất nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, ủy ban nhân dân tỉnh đã cấp cho công ty khu đất tại Bình Tân làm mặt bằng sản xuất và giao vốn cố định là 161.409.000 đồng, vốn lưu động 60 triệu đồng. Công ty còn được nhà nước cho vay ưu đãi về đầu tư thiết bị dây chuyền sản xuất kem đánh răng với số tiền trị giá 300 triệu đồng… Song, trong quá trình sản xuất kinh doanh ông Phạm Tám đã dùng quyền giám đốc của mình để tham ô, chi sai nguyên tắc, báo cáo sai trong hoạch toán kinh doanh, thiếu trách nhiệm tạo điều kiện cho khách hàng chiếm đoạt tài sản, gây thiệt hại cho công ty đến hàng chục tỷ đồng. Trong thời gian từ ngày 17 tháng 2 năm 1993 đến ngày 1 tháng 11 năm 1994 Công ty bột giặt và mỹ phẩm Nha Trang do Phạm Tám làm đại diện đã ký 16 hợp đồng kinh tế để mua hương liệu, hóa chất và vỏ ống kem đánh răng của công ty Nguyên Phan tại cộng hòa liên ban Đức do ông Nguyễn Ngọc Trí làm đại diện. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Trí lợi dụng chiếm đoạt số tiền là 11.603.22DM, 26 ngàn đô la Mỹ và 37 triệu đồng. Cũng trong thời gian này, ông Phạm Tám ký hợp đồng số 118 ngày 2 tháng 8 năm 1993 bán cho ông Trí một triệu ống kem đánh răng với giá là 0,415 đô la Mỹ trên một ống, trị giá là 415 ngàn đô la Mỹ. Phạm Tám tạo điều kiện cho ông Nguyễn Ngọc Trí chiếm đoạt 23.115 đô la Mỹ. Do không có tư cách pháp nhân để hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, ông Trí đã bàn bạc và thõa thuận với ông Tám là sẽ nhờ anh Phan Đồng Lân (người làm thuê cho Trí) trú tại thành phố Hồ Chí Minh đứng tên ký hợp đồng số 16 (không ngày tháng) với Tám để mua lô hàng kem đánh răng và dầu gội đầu trị giá 176.250.000 đồng rồi chiếm đoạt 89.974.000 đồng. Mặc dù ông Trí còn nợ tiền hàng với số lượng lớn, ngày 5 tháng 5 năm 1994 ông Tám vẫn tiếp tục ký hai hợp đồng kinh tế số 1/ 5 và 3/5 bán hàng hóa cho ông Trí để ông Trí chiếm đoạt 47.820 đô la Mỹ và 2.575.000 đồng. Đồng thời để có tiền trả nợ và sử dụng vào mục đích khác ông Trí đã bàn bạc và tống nhất với ông Tám ký hợp đồng mua 1,5 ngàn tấn sô đa ashlight với giá là 1.850 đồng trên một ki lo gam (mặc dù ông Trí biết giá cả thị trường chỉ 1.700 đồng trên một ki lo gam) chiếm đoạt 33.050.000 đồng. Ngày 8 tháng 7 năm 1996 Trí sử dụng tư cách là giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn Nguyên Phan Nha Trang đã bàn bạc với Tám ký hai hợp đồng kinh tế số 18 và 19 mua của Công ty bột giặt và mỹ phẩm Nha Trang hóa chất trị giá 451 triệu đồng. Nhưng kể từ ngày nhận hàng đến nay Trí không hề thanh toán một khoản nào cho Công ty bột giặt và mỹ phẩm Nha Trang tổng cộng là 70.935 đô la Mỹ và 93.549.500 đồng. Ngoài ra Trí còn chiếm đoạt của công ty là 865.060.000 đồng. Ngày 10 tháng 8 năm 1995 ông Phạm Tám ký hợp đồng số 01 mua của công ty cổ phần thương mại du lịch Ponagar với 5000 tấn sô đa ashlight hàm lượng 99,2% với giá 1.900 đồng trên một ki lo gam tổng giá trị hợp đồng là 9,5 tỷ đồng. Mặc dù giá bán sô đa trên thị trường thành phố Hồ Chí Minh chỉ biến động từ 1.820 đến 1.850 đồng trên một ki lo gam, nên đề nghị phải tiến hành đàm phán lại với công ty Panagar để giảm giá bán nhưng ông Tám không đồng ý vẫn quy định thực hiện theo hợp đồng rồi chỉ đạo cho nhân viên lập phương án sản xuất, hồ sơ xin vay vốn của chi nhánh ngân hàng ngoại thương Nha Trang để thực thi. Phi vụ này chưa tới hiệu quả là Công ty bột giặt và mỹ phẩm Nha Trang thiệt hại 5.254.892.851 đồng. Ngoài ra từ năm 1990 đến khi bắt, ông Phạm Tám tự trích thưởng mà không có quyết định, không theo dõi việc chi thu, chỉ trích thưởng dẫn tới gây thiệt hại cho tài sản nhà nước số tiền là 5.472 đô la Mỹ và 320.337.414 đồng. Lợi dụng là người nhận trực tiếp tiền hàng tại xí nghiệp quốc doanh mỹ phẩm quận 10 ông Tám đã không làm thủ tục nhập quỹ công ty ngay mà để sử dụng ngoài sự kiểm soát của kế toán công ty dẫn tới đã tự kê khống các khoản chi không có thật như khai dùng tiền để chi trả phạt hợp đồng, trả tiền mua hàng, chi thưởng cho khách hàng, nhưng sổ sách kế toán của hai bên đối tác không thể hiện những khoản chi này, hoặc có những khoản chi phí ít, kê khai thanh toán nhiều, chi một lần thanh toán hai lần… để tham ô chiếm đoạt số tiền là 113.407.020 đồng. Chỉ đạo Hà Thị Phượng trích thưởng số tiền là 102.318.943 đồng và Đỗ Tấn Vinh là 181.602.350 đồng. Tổng số tiền trích thưởng theo chỉ đạo của ông Tám chi trực tiếp là 509.133.935 đồng. Việc thực hiện trích thưởng này không có quyết định trích thưởng theo quy định nhà nước. Trong quá trình điều tra xí nghiệp quốc doanh mỹ phẩm quận 10 trên sổ sách, chứng từ không thấy thể hiện những khoản chi này, các cá nhân có liên quan của xí nghiệp không thừa nhận có việc trích và nhận tiền thưởng như ông Tám, Phượng và Vinh đã khai báo. Đã thế trong quá trình sản xuất kinh doanh tại công ty bị thua lỗ, hàng sản xuất không tiêu thụ được trên thị trường và vốn vay các ngân hàng lớn nhưng để có thành tích báo cáo cấp trên, ông Tám đã chỉ đạo cho Huỳnh Nam biến lỗ thành lãi. Báo cáo quyết toán các năm từ năm 93 đến 95 không đúng với hiện tình hình sản xuất kinh doanh. Năm 1993 lỗ 4.742.480.607 đồng được biến hóa thành lãi 123.738.542 đồng, năm 1994 lỗ 7.503.622.172 đồng được biến hóa thành lãi 318.561.462 đồng… từ việc báo cáo sai của Tám và Nam chẳng những gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về kinh tế mà còn làm cho công ty hoạt động ngày càng kém hiệu quả và thiệt hại ngày càng lớn cho tài sản của nhà nước. Tại phiên tòa bị cáo Tám cứ luôn miệng kêu oan còn các bị cáo khác và các nhân chứng thì cứ chối lỗi đỗ tội cho nhau, cho tới 4 ngày sau thẩm vấn và tranh luận hội đồng xét xử tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét thấy có một số chứng cứ trong vụ án chưa đủ cơ sở để kết luận các bị cáo về các tội danh bị truy tố tương ứng cần điều tra làm rõ nên đã quyết định trả hồ sơ để cơ quan điều tra bổ sung. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin tới bạn đọc khi vụ án được đưa ra xét xử. Có điều giám đốc là ông Phạm Tám và đồng bọn không thể thoát khỏi sự trừng phạt của luật pháp.
Minh Đức- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 28(69)199

Tăng cường quản lý chất lượng xây dựng một đề nghị về công tác giám định

Trong các công trình xây dựng với quy mô lớn và vừa, hoặc đòi hỏi với các công trình có ý nghĩa quan trọng đều có sự tham gia của bên thứ ba về giám định. Đinh Bá Lô tuần báo xây dựng số 20 năm 1999.
Đã có bước tiến công tác giám định kỹ thuật công trình xây dựng trước kia thường do bên A (ban quản lý dự án) hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy chế quản lý, nghiệm thu chất lượng công trinh. Bên thứ ba ở đây là những công ty có trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ, trang thiết bị đủ để thực hiện nhiệm vụ giám định toàn bộ các bước kỹ thuật, từ thiết kế đến thi công và nghiệm thu công trình. Nhưng với khối lượng rất lớn các công trình nhóm C, mà hầu hết các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp hiện nay thuộc nhóm này được thực hiện giám định như sau:
Thẩm định thiết kế
Sau khi tổ chức tư vấn hoàn chỉnh hồ sơ khảo sát thiết kế, chủ đầu tư kiểm tra và chấp nhận, một tổ chức tư vấn khác được ủy nhiệm của chủ đầu tư, hoặc do giới thiệu của cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện thẩm định thiết kế, không loại trừ trường hợp tổ chức tư vấn thiết kế trực tiếp nhờ tổ chức tư vấn bạn làm thẩm định thông qua hợp đồng với chủ đầu tư. Hồ sơ thiết kế và thẩm định chéo được gửi lên cơ quan quản lý nhà nước để thẩm định lại và ra quyết định thẩm định kỹ thuật và tổng dự toán. Lúc này hồ sơ thiết kế mới đủ tư cách đưa vào thi công.
Giám sát thi công
Hiện nay, công tác giám sát thi công được thực hiện theo hai cách sau: Chủ đầu tư ban quản lý dự án tự giám sát lấy. Hợp đồng với các tổ chức tư vấn xây dựng thực hiện giám sát. Một công ty tư vấn loại trung bình cũng có chức năng giám định và giám sát thi công. Cần nhận thức rằng thẩm định thiết kế và giám sát thi công không phải chi có năng lực kỹ thuật mà còn phải có nghiệp vụ thẩm định và giám sát thi công, phải thông thạo các quy chế, quy phạm, thủ tục giám sát, chế độ nghiệm thu, phải có trong tay các trang thiết bị kiểm tra chất lượng công trình. Quy định nhiều cấp thẩm quyền không hẳn đã là chặt chẽ, có khi chỉ làm tốn kém thời gian và thêm nhiều tiêu cực. Không loại trừ những trường hợp các bên liên quan vui vẻ với nhau, dễ dàng châm chước cho nhau theo kiểu A thiết kế, B thẩm định chéo, sau đó B thiết kế, A thẩm định chéo, không loại trừ A và B tuy là hai đơn vị tư vấn, nhưng người thực hiện vẫn chỉ là một. Từ thực tế trên, để nâng cao chất lượng công trình xây dựng xin đề nghị: Tiếp tục tăng cường để xây dựng một nền nếp công tác giám định, độc lập với chủ đầu tư, thiết kế và thi công. Tất nhiên, phải thành lập thêm các tổ chức giám định, giám sát, phân loại theo yêu cầu kỹ thuật công trình không phải theo vốn đầu tư. Xây dựng một đội ngũ thẩm định thiết kế giám sát thi công. Phải từ những kiến trúc sư, kỹ sư đã có quá trình trực tiếp hành nghề thiết kế và thi công, đã có quá trình thực tế có kinh nghiệm và có học nghiệp vụ thẩm định, giám sát. Có thể nghĩ đến chế độ chứng chỉ giám định, tương tự chứng chỉ chủ nhiệm đồ án của kiến trúc sư. Điều lệ quản lý đầu tư xây dựng đang nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cần quy định rõ trách nhiệm thiết kế và thẩm định, giám sát trước pháp luật. Không nên như hiện nay mặc dù thiết kế đã qua hai lần thẩm định nhưng người thiết kế vẫn hoàn toàn chịu trách nhiệm. Khi đã có Công ty tư vấn thẩm định thì trách nhiệm xét duyệt kỹ thuật và tổng dự toán của cơ quan quản lý nhà nước sẽ khác đi, không thể tự ý bác bỏ giải pháp thiết kế đã được thẩm định như hiện nay có nơi làm như vậy cơ quan quản lý nhà nước chỉ nên xét duyệt những vấn đề chính, về kỹ thuật và phát hiện những sai sót trong khâu lập tổng dự toán, kinh nghiệm cho thấy khâu tổng dự toán các công ty tư vấn hiện nay thường có sơ suất. Đề nghị trên cũng đồng nghĩa với bỏ chức năng thẩm định thiết kế và giám sát thi công của chủ đầu tư và các Công ty tư vấn thiết kế.
KTS Ngô Huy Giao- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 28(69)1999.

Bào chữa và tự bào chữa trong phiên tòa epco – minh phụng

Tất cả đều tránh né tội danh lừa đảo
Theo quan điểm của Viện kiểm sát, 75 trong tổng số 77 bị cáo của vụ án Epco – Minh Phụng phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa”. Từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 24 tháng 7, hội đồng xét xử cho bắt đầu giai đoạn tranh luận trước toàn với phần bào chữa của luật sư và tự bào chữa của từng bị cáo. Tất cả luật sư bào chữa và bị cáo tự bào chữa đều tránh né tội danh lừa đảo…
Luật sư: có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
Bào chữa có 3 bị cáo Hứa Thanh Lượng, Hứa Xáu Há, Hứa Thanh Huy 3 công nhân được Minh Phụng đặt lên ngồi ghế giám đốc các công ty con, Luật sư Trương Thị Hòa cho rằng trong vụ án này có dấu hiệu lừa đảo, song việc truy tố theo tội danh lừa đảo là chưa thỏa đáng, mà các bị cáo này chỉ có dấu hiệu phạm tội sử dụng trái phép tài sản Xã hội chủ nghĩa. Theo luật sư Hòa hoạt động tố tụng về giám định cũng như các hợp đồng thanh toán khác được tiến hành theo quy định của bộ Luật tố tụng hình sự phải được ghi trong các biên bản mới được coi là chứng từ. Do đó luật sư Hòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá lại kết quả giám định của 2 hội đồng giám định mà theo bà là hết sức quan trọng trong vụ án này. Cùng bào chữa cho bị cáo Hứa Thanh Lượng, luật sư Nguyễn Thị Kim Loan nhận định trong vụ án này có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố bởi khởi tố vụ án về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa nhưng khởi tố bị can về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chủ nghĩa xã hội là không phù hợp. Theo luật sư Loan nhiều trưng cầu của cơ quan điều tra với 2 hội đồng giám định đã bị từ chối và nếu có kết quả giám định đã bị từ chối và nếu có kết quả giám định đã bị từ chối và nếu có kết quả giám định thì cũng công bố sau kết luận điều tra, vậy kết luận điều tra đã kết luận không căn cứ vào chứng cứ. Trước đó, luật sư Nguyễn Minh Tâm và luật sư Bùi Quang Nghiêm khi bào chữa cho bị cáo Tăng Minh Phụng nhận định trình tự thành lập hội đồng định giá không tuân thủ các quy định của pháp luật, không bảo đảm nguyên tắc thành lập hội đồng giám định là kết quả của sự làm việc tùy tiện. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp phép lái máy bay chở khách cho phi công lái máy bay chiến đấu… Luật sư Nghiêm cho rằng viện kiểm sát chỉ đề cập đến các bị cáo đồng phạm một cách hết sức chung chung mơ hồ, không thấy nêu vai trò cụ thể của từng bị cáo như trong các vụ án khác. Ai là thủ phạm chủ mưu? Cáo trạng cũng như luận tội có ý né tránh ngay từ đầu. Ông nói những người có quyền quyết định đến mục đích, phương pháp và các biện pháp điều tra, truy tố đã mong muốn một mức án cao nhất trong một số bị cáo nhất định đứng đầu trong danh sách các bị cáo… Chủ tọa Nguyễn Đức Sáu nhắc các luật sư trong khi bào chữa không được kết luận mang tính quy chụp đối với các cơ quan tố tụng, không nên sử dụng hình ảnh ví von như chuyện phi công lái máy bay và không được nói xấu các bị cáo khác khi bảo vệ thân chủ của mình.
Đề nghị xem xét tội danh và định giá tài sản đối với Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn.
Bào chữa cho Tăng Minh Phụng, luật sư Tâm cho rằng kết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Chủ nghĩa xã hội cho bị cáo Tăng Minh Phụng làm ông rất là bâng khuâng bởi nếu cáo buộc Tăng Minh Phụng lừa đảo, chiếm đoạt tiền của ngân hàng thì phải chứng minh được Tăng Minh Phụng đã lừa đảo 2 ông Hồng và Bích như thế nào. Hành vi lừa đảo bao giờ cũng xảy ra trong mối quan hệ kẻ lừa đảo và người bị lừa đảo, kẻ đi lừa phải dùng những thủ đoạn gian dối đối với người bị lừa để chiếm đoạt tài sản, người bị lừa là người đang quản lý, nắm giữ tài sản là đối tượng của sự chiếm đoạt. Ở đây quan hệ tín dụng và bảo lãnh của Tăng Minh Phụng với ngân hàng, vì ông Hồng và ông Bích là người đang quản lý tài sản của ngân hàng nên muốn cáo buộc Tăng Minh Phụng lừa đảo 2 ông Hồng và Bích. Cáo trạng cáo buộc cả 2 bị cáo Hồng và Bích cấu kết với Tăng Minh Phụng để lừa đảo tất cả kẻ đi lừa đảo và người bị lừa đảo đều phạm tội lừa đảo thế thì ai là người bị lừa đảo ở đây, nếu không chứng minh được người bị lừa đảo thì khó quy kết tội lừa đảo. Ông nói đây chính là cái vòng luẩn quẩn về lý luận chưa có lối ra, không có đủ cơ sở pháp lý để cáo buộc Tăng Minh Phụng về tội lừa đảo… Luật sư Loan cũng bào chữa cho Tăng Minh Phụng đưa ra hàng loạt minh chứng, theo đó 5 tài sản của Tăng Minh Phụng có 2 bộ chứng từ quyền sở hữu đêm thế chấp cho các ngân hàng là do lỗi hành chính của các cơ quan hành chính Ủy ban nhân dân quận 11 và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, phòng công chứng nhà nước ngay cả việc mua bán không, rút tiền ngân hàng bà Loan cũng cho rằng đó là các khâu nối tiếp nhau trong thủ tục hành chính. Từ đó bà kết luận rằng Tăng Minh Phụng chưa hề chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, một thường dân như Tăng Minh Phụng không thể lừa được cả hệ thống viên chức ngân hàng. Bào chữa cho Liên Khui Thìn, luật sư Phan Trung Hoài và Nguyễn Phương Danh cũng cho rằng Liên Khui Thìn không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Chủ nghĩa xã hội mà chỉ có dấu hiệu phạm tội, sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa, bởi 2 yếu tố quan trọng để cấu thành tội lừa đảo là gian dối và chiếm đoạt thì trong quan hệ tín dụng giữa EPCO và ngân hàng đều được thiết lập đúng quy định của ngành ngân hàng và đúng pháp luật, không ai lừa dối ai. Luật sư Hoài cho rằng, sự kiện Ủy ban nhân dân quận 3 góp vốn ngân sách là sự kiện có thật, được thẩm định và tái thẩm định trước khi Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ký quyết định thành lập công ty EPCO. Nếu cáo buộc đó chỉ là những con số trên giấy, không có thật thì sẽ giải thích như thế nào về trách nhiệm của các cơ quan thẩm định, tham mưu cho Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ký giấy phép thành lập. Luật sư Hoài cho biết theo thông tư số 95 ngày 11 tháng 3 năm 1993 của Bộ Tài chính việc nhà nước góp vốn vào công ty Trách nhiệm hữu hạn không vi phạm pháp luật nếu làm đúng thủ tục và được Thủ tướng đồng ý. Ông cho biết, ở EPCO quyền quyết định không phải là của Liên Khui Thìn mà của Hội đồng quản trị trong đó Ủy ban nhân dân quận 3 có vai trò rất lớn đã góp tới 64,8 phần trăm số vốn. Do vậy, cần xem xét kỹ vai trò của Liên Khui Thìn, việc định giá tài sản thế chấp không thuộc vào Liên Khui Thìn nên cáo trạng buộc Liên Khui Thìn nâng khống tài sản của công ty EPCO để thế chấp là không hợp lý. Liên Khui Thìn không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Chủ nghĩa xã hội.
Nước mắt cá sấu
Tương tự như Luật sư bào chữa cho Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn các luật sư bào chữa cho Phạm Nhật Hồng, Nguyễn Ngọc Bích và các bị cáo khác đều viện dẫn các lý do để chứng minh thân chủ của mình không phạm tội lừa đảo. Phạm Nhật Hồng khi nghe các luật sư bào chữa cho mình đã khóc và đây là lần đầu tiên Hồng khóc trước tòa bởi trước đó Hồng được coi là bị cáo lỳ lợm và bản lĩnh nhất trong các bị cáo vì mặt luôn lạnh tanh. Được tự bào chữa, Hồng nói: “không có chứng cứ pháp lý nào cho thấy tội chiếm đoạt tài sản nhà nước. Tôi buộc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do chính tôi quản lý là không đúng. Luật sư Nguyên cho rằng không đủ căn cứ pháp lý để kết luận số tài sản Chung Diệu Kiệt khai đứng tên họ Phạm Nhật Hồng là kết quả của sự kết cấu giữa Hồng, Phụng, Thìn, luật sư Hoà bào chữa cho Hồng còn lý luận Hồng chỉ là cấp giữa, trên cán bộ của Ngân hàng Công thương Việt Nam, dưới là cán bộ tín dụng đề xuất ký duyệt vay, do vậy không thể cho rằng quyền lực của Hồng áp đặt hết, Hồng chỉ phạm tội cố ý làm trái phá luật. Tự bào chữa, bị cáo Bích khẳng định mình thiếu kinh nghiệm nên đã sai phạm chứ không phạm tội lừa đảo. Bào chữa cho bị cáo Bích, luật sư Thoa nói không có lời khai không có chứng cứ nào chứng minh Bích hướng dẫn thành lập các công ty con cho Công ty EPCO, và công ty Minh Phụng việc ký duyệt cho vay không thể hiện bị cáo có thông đồng với Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn. Do vậy không có đủ chứng cứ pháp lý cáo buộc Bích tội lừa đảo với vai trò đồng phạm giúp sức cho Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn. Tính đến ngày 23 tháng 7 năm 1999, hơn 60 bị cáo trong tổng số 77 bị cáo đã được luật sư bào chữa và tự bào chữa. Đặc biệt, bị cáo Nguyễn Tuấn Phúc nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty EPCO bị cáo thứ 43 trong 77 bị cáo trong quá trình thẩm vấn trước tòa bị đưa lên tốp đầu và bị viện kiểm sát đề nghị mức án chung thân đã chấp tay xá lạy hội đồng xét xử và viện kiểm sát xin được hưởng mức án nhẹ hơn so với đề nghị của viện kiểm sát.
Kim Tiến- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 29+30 (70+71)1999.

Các khu vui chơi giải trí ở thủ đô chưa phong phú

Theo thống kê sơ bộ trong các quận nội thành Thủ đô Hà Nội có tới 48 vườn hoa và công viên, nếu tính cả diện tính mặt hồ nằm trong khu vui chơi thì diện tích lên tới 140 héc ta. Song thực tế cho thấy, chưa có công viên nào đáp ứng được nhu cầu giải trí ngày càng cao của nhân dân Thủ đô cũng như khách thập phương.
Vì sao ít khách tới công viên?
Trước hết, xin đề cập đến công viên Lê nin trước là công viên Thống nhất. Đã có một thời những ngày nghỉ, lễ, tết, công viên tràn ngập không khí náo nhiệt, tưng bừng của ngày hội. Nhưng nay khi khách vào công viên không còn thấy cảnh đó nữa. Ban ngày, trừ ngày lễ, ngày nghỉ chủ nhật, còn thấy đông người chủ yếu là các gia đình con trẻ vào chơi, còn thường ngày chỉ thấy lác đác vài người khác ngồi nghỉ mát dưới bóng cây. Ghế đá công viên trở thành giường nằm của trẻ bụi đời, thấp thoáng vài ông phó nháy đeo máy ảnh lủng lẳng đi lại chờ ngóng khách. Một vài chỗ trong công viên trở thành sân đá bóng cho thành niên, thiếu niên. Các điểm vui chơi cũ nhà thuyền, sân quay con giống, ga tàu hỏa Hà Nội – Huế – Sài Gòn… trước đây vốn đông vui bây giờ nằm im, bất động. Khu nhà cười vốn hấp dẫn một thời, nay cũng chẳng thấy người vào chơi, rồi đảo Phong Lan, một thế giới của cây cỏ, hoa lá, chim muông, cho đến thời điểm này cũng không thu hút được người đến thăm. Gần đây, từ tháng 10 năm 1998, trong công viên có mở thêm triển lãm Băng Đăng của Trung Quốc mới lạ và hấp dẫn thật những giá vé vào cửa cũng không phải là nhỏ so với mức lương bình thường của người lao động. Cả một gia đình 2 vợ chồng, 2 đứa con vào cửa đã mất đứt hơn 1 trăm nghìn đồng chưa kể ăn uống, chụp ảnh… Bên cạnh đó, cảnh quan môi trường trong công viên ít được tôn tạo, đổi mới nên gây ra sự nhàm chán. Hệ thống vui chơi quá đơn điệu, cũ kỹ đã không thực sự thu hút người dân thủ đô vào chơi. Đó là ban ngày còn đêm đến, người tử tế chẳng ai lại dại gì vào công viên. Vì trong công viên là điểm thuận lợi cho các đối tượng mại dâm, nghiện hút hoạt động. Bên cạnh việc xây dựng, nâng cấp, đầu tư cho các công viên, khu vui chơi giải trí ở Thu đô đối với các cơ quan chủ quản, quản lý ở Thủ đô cần mở rộng hợp tác, học tập kinh nghiệm với các nước trong khu vực và thế giới về xây dựng và phát triển công viên, khu vui chơi, giải trí, trước hết là với các thành phố lớn nhất là thành phố Hồ Chí Minh. So với công viên Lê nin thì công viên Thủ Lệ về an ninh trật tự được quan tâm hơn. Công viên Thủ Lệ được coi là một trong những công viên đẹp nhất Thủ đô, nhưng lượng khách vào đây không đáng là bao, đa phần là các đôi nam nữ vào đi chơi, đi dạo bởi không gian ở đây yên tĩnh thoáng đãng, có núi, có nhiều hồ, thật là một khung cảnh nên thơ, gần nơi công viên Thủ Lệ có vườn thú lớn với 1 diện tích là 21 héc ta, có 6 héc ta hồ. Vườn thú có trên 100 loài với khoảng 8 trăm cá thể, ở đây có nhiều giống động vật quý như báo gấm, ngựa hoang, ngựa vằn… vườn thú là 1 điểm vui chơi du lịch hấp dẫn của khách nước ngoài, nhân dân thủ đô và khách thập phương mỗi khi về thăm Hà Nội. Chính sự không hấp dẫn của các công viên, thiếu kiên quyết của các cơ quan chức năng, mà hiện giữa Hà Nội vẫn tồn tại lù lù một xóm liều ở bãi rác Thành Công chiếm lĩnh toàn bộ đất dành cho việc xây dựng công viên Đống Đa. Lẽ ra, nơi đây phải trở thành một trung tâm văn hóa phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, thì lại trở thành một khối ung nhọt tồn tại các loại tệ nạn xã hội ngấm ngầm phát triển giữa lòng thủ đô Hà Nội. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 425/UB giao cho Ủy ban nhân dân quận Đống Đa, tổ chức giải phóng mặt bằng công viên Đống Đa. Những tưởng, mặt bằng nơi đây sẽ được dọn sạch sẽ khi mà thành phố đã nắm trong tay cơ sở pháp lý và ngân sách. Song đến nay xóm liều vẫn còn tồn tại, người dân thành phố bất bình với hiện tượng tiêu cực này bởi đây không chỉ là việc lấn chiếm mua bán đất bất hợp pháp mà còn là tụ điểm của tệ nạn xã hội và ô nhiễm môi trường. Tháng 7 năm 1998 Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã chính thức phê duyệt quy hoạch chi tiết của công viên Đống Đa. Không biết với quyết định trên, người dân lao động thủ đô có quyền hy vọng điểm vui chơi này sẽ có trong tương lai gần hay không?
Để dự án trở thành hiện thực
Thời gian qua, các cấp, các ngành ở Hà Nội đã quan tâm, đầu tư nâng cấp, cải tạo công viên Lê nin, tôn tạo nền đảo Phong Lan, nạo vét lòng hồ Ba Mẫu, lắp đặt một số công trình mới như vũ trụ bay, trung tâm điện tử. Ở vườn thú Thủ Lệ cũng có thêm trò chơi ô tô bay do công ty xe điện lắp ráp… Tuy vậy, tất cả những điều đó chưa đủ làm nên sức sống, hơi thở mới cho công viên! Nói mới chỉ là bước đi đầu tiên khi phía trước đang còn cả một chặng đường nhiều thử thách. Cho đến nay, Thành phố Hà Nội đang triển khai 22 dự án xây dựng các khu vui chơi giải trí với tổng diện tích là 1.288,5 héc ta tiêu biểu là dự án khu vui chơi giải trí trong công viên Lê nin của Sở giao thông công chính do Công ty Thống Nhất – Hà Nội là chủ đầu tư 18.205 tỷ đồng. Cuối năm 1998 đã có 3 dự án công viên gồm những hạng mục vui chơi, giải trí được hoàn thành cơ bản và đưa vào sử dụng là vườn thú Thủ Lệ, Công viên Lê nin, hồ Ba Mẫu và trung tâm văn hóa thể thao giải trí Hà Nội. Năm 1999 có thêm 6 dự án sẽ hoàn thành từng phần để đưa vào sử dụng trong đó có “Khu công viên vui chơi giải trí Mễ Trì” là một trong những khu công viên ven đô Hà Nội có diện tích là 315,35 héc ta. Bên cạnh việc xây dựng, nâng cấp, đầu tư cho các công viên, khu vui chơi giải trí ở Thu đô đối với các cơ quan chủ quản, quản lý ở Thủ đô cần mở rộng hợp tác, học tập kinh nghiệm với các nước trong khu vực và thế giới về xây dựng và phát triển công viên, khu vui chơi, giải trí, trước hết là với các thành phố lớn nhất là thành phố Hồ Chí Minh. Bởi thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng thu hút khách đến vui chơi giải trí ở các công viên, khu du lịch giải trí ở các công viên, khu du lịch nổi tiếng như Đầm Sen, Kỳ Hòa, Suối Tiên, Công viên nước, Thảo cầm viên, … thiết nghĩ để xây dựng và phát triển một công viên, một khu vui chơi giải trí hoàn chỉnh là không đơn giản và không thể một sớm một chiều. Đây là việc làm cần sự quan tâm, đầu tư, chỉ đạo của nhiều cấp, nhiều ngành và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân chung sức để xây dựng Hà Nội ngày càng văn minh – giàu đẹp, có nhiều điểm vui chơi, lý thú hấp dẫn. Đó là những tiền đề, điều kiện cần thiết trong việc triển khai Nghị quyết trung ương 5 về vấn đề văn hóa để Hà Nội có thêm nhiều công trình văn hóa đẹp, nhiều công viên với các khu vui chơi lý thú, độc đáo, chuẩn bị hành trang tiến vào thế kỷ 21 và kỷ niệm trọng thể 1 nghìn năm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội vào năm 2010.
Mạnh Hà-xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 29+30 (70+71)1999.

Đô thị hóa nông thôn

Xã Eakly huyện Krông Pach vốn là vùng đầm lầy âm u rậm rạp, nay đã trở thành một thị tứ sầm uất, quy hoạch hoàn chỉnh theo từng khu trung tâm chính trị, khu văn hóa, khu thương mại, khu dân cư… Xã Ea Ktua huyện Krông Ana trước đây là một xã nghèo, nay ở xã nhà cao tầng đã mọc lên san sát, đường xá được quy hoạch, phân luồng… Xã Cư-né M’nông huyện CưM’gar là xã vùng sâu, từng là địa bàn hoạt động của bọn Phulro phản động, ngày xưa chỉ nghe đến địa danh cũng đủ rợn người, thế mà nay đã trở thành vùng trù phú. Những căn nhà sàn kiểu mới với kiến trúc đẹp, kiểu dáng lạ đua nhau mọc lên, tạo cho vùng này những nét riêng rất, độc đáo… Còn nhiều xã vùng sâu xa, ở Đắc Lắc đang dần được đô thị hóa như thế. Đặc biệt, đối với những xã có các nông trường, nhất là các nông trường cà phê đóng chân thì tốc độ đô thị hóa diễn ra càng nhanh. Với tiềm lực kinh tế của mình, trong những năm qua các nông trường đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng hoàn chỉnh các công trình cơ sở hạ tầng, tạo cho vùng sâu vùng xa ở Đắc Lắc diện mạo mới văn minh, công nghiệp và hiện đại hơn. Hơn 10 năm trước điện, đường, trường, trạm còn là niềm ước mơ của người dân vùng sâu, vùng xa thì nay đã gần 50% xã trong tỉnh đã có đủ 4 công trình này. Nông trường cà phê 719 là một trong những đơn vị điển hình trong việc đầu tư xây dựng cơ bản. Từ năm 1990 đến nay nông trường đã đầu tư gần 30 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Có thể nói các nông trường, đặc biệt là các nông trường, đặc biệt là các nông trường cà phê đã thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa vùng sâu vùng xa ở tỉnh Đắc Lắc. Cơ cấu kinh tế trong các vùng nông thôn được đô thị hóa có sự thay đổi đáng kể. Các vùng này trước đây chỉ thuần nông nay đã có thêm nhiều dịch vụ mới. Một số nông dân trước đây chân chất tay lấm chân bùn nay đã thoát ly hẳn ruộng đồng để chuyển sang kinh doanh, buôn bán. Một số khác, tuy vẫn bám đất nhưng cũng tranh thủ làm thêm một số dịch vụ khác. Thành phần kinh tế trở nên đa dạng hơn, thu thập và mức sống của người dân cao hơn, nhận thức và trình độ dân trí của người dân được nâng lên rõ rệt, các hủ tục lạc hậu bị đẩy lùi, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn được rút ngắn dần. Các ngôi nhà cao tầng, đặc biệt là dạng nhà biệt thự, nhà vườn ở các vùng nông thôn ngày càng nhiều và dần thay thế các căn nhà lụp xụp trước đây. Tuy nhiên chưa được thống kê nhưng có thể khẳng định không một vùng nông thôn nào lại có nhiều nhà biệt thự, nhà vườn như các vùng thôn quê ở Đắc Lắc. Tuy nhiên quá trình đô thị hóa nông thôn Đắc Lắc diễn ra không đồng bộ. Nơi nào có sự tác động và đầu tư của các đơn vị có tiềm lực kinh tế mạnh thì nơi đó quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và các ngược lại, nếu không có sự đầu tư của các nông lâm trường thì việc đô thị hóa rất chậm. Điều đó chứng tỏ rằng các vùng nông thôn ở Đắc Lắc chưa thực sự phát huy nội lực của mình. Số người có thu nhập cao từ nông nghiệp ở Đắc Lắc tương đối nhiều. Chỉ khi ý thức và trách nhiệm đối với cộng đồng của những người này được nâng cao thì nội lực mới được phát huy. Ea Phê là một điển hình trong việc phát huy nội lực xây dựng quê hương. Hy vọng khi bước sang thế kỷ 21, nhiều làng xã trên địa bàn Tây Nguyên sẽ phát huy được nội lực như Ea Phê để thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nông thôn.
Thu Hà-xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 29+30 (70+71)1999.

Dũng cảm kiên cường trong lửa đạo hảo tâm nghĩa tình lúc làm nên

(viết về Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8)
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 thuộc Bộ Giao thông vận tải tiền thân là Ban xây dựng 64. Đơn vị được thành lập từ năm 1964 với nhiệm vụ giúp Mặt trận Lào yêu nước làm giao thông vận tải phục vụ chiến tranh giải phóng các dân tộc Lào. Giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1975 đơn vị được giao nhiệm vụ giúp bạn làm giao thông vận tải ở 3 tỉnh là Phong Xa Lý, Hủa Phăn, và Xiêng Khoảng. Mặc dù bom đạn ác liệt nhưng hơn 600 km đường của Ban 64 phụ trách nối liền căn cứ cách mạng Lào với vùng giải phóng luôn bảo đảm thông suốt. Từ năm 1976 đến năm 1989, Ban 64 bước vào giai đoạn mới, chuyển hướng từ nhiệm vụ mở đường và bảo đảm giao thông trong chiến tranh sang xây dựng cơ bản kết cấu hạ tầng giao thông vận tải giúp bạn bằng nguồn vốn viện trợ của các nước. Để mở rộng địa bàn, xây dựng thêm tuyến đường giao thông cho bạn, hầu hết các bộ phận của đơn vị đều thi công ở các vùng núi cao hẻo lánh, khí hậu khắc nghiệt, sinh hoạt thiếu thốn, bệnh tật tràn lan. Bom mìn trong chiến tranh vẫn còn lại rất nhiều, máu của cán bộ, công nhân viên trong đơn vị vẫn tiếp tục chảy. Từ năm 1990 trở lại đây, đặc biệt là sau khi đơn vị trở thành Tổng Công ty theo quyết định 90/TTg, đơn vị đã có những bước phát triển vượt bậc, mức tăng trưởng bình quân hàng năm từ 1,5 đến 2,5 lần. Đến năm 1998 đạt giá trị sản lượng là 60 triệu đô la Mỹ. Năm nay, theo kế hoạch Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 đang phấn đấu đạt 9 trăm tỷ đồng Việt Nam doanh thu. Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 đã và đang hợp tác với các tập đoàn kinh tế lớn của Nhật Bản, Hàn Quốc, Ý, Pháp, Mỹ, Trung Quốc… tham gia đấu thầu và thắng thầu nhiều dự án quốc tế. Trong tháng 7 năm 1999, hướng về ngày thương binh liệt sĩ, lật lại những trang sử hào hùng của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8, bên cạnh niềm vui của sự tăng trưởng kinh tế, cũng không khỏi bùi ngùi trước những tổn thất, mất mát trong suốt 30 năm qua mà đơn vị phải gánh chịu 213 liệt sỹ, 142 thương bệnh binh, 398 cán bộ công nhân mất sức lao động vì bệnh tật hiểm nghèo, 93 nữ công nhân viên đã cống hiến cả tuổi thanh xuân trên đất Lào không có điều kiện xây dựng gia đình. Đã từng vào sinh ra tử sống trong mưa bom bão đạn, thiếu thốn trăm bề, Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 cảm thông sâu sắc với những khó khăn, đặc biệt là đối với các mẹ Việt Nam anh hùng. Đến nay, Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 đã nhận phụng dưỡng 20 bà mẹ Việt Nam anh hùng, trong đó có 5 mẹ ở Phúc Thọ tỉnh Hà Tây mà Tổng công ty vừa nhận phụng dưỡng, chưa kể các mẹ do các Công ty trực thuộc phụng dưỡng. Chúng tôi đã cùng Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 đi trao quà và tiền phụng dưỡng cho 5 bà mẹ Việt Nam anh hùng ở Phúc Thọ tỉnh Hà Tây theo vận động và giới thiệu của Báo Xây dựng. Đến thăm các mẹ Nguyễn Thị Ốc, Đỗ Thị Quyết, Nguyễn Thị Mẫn ở xã Võng Xuyên, Kiều Thị Nhàn ở xã Lộc Thọ và mẹ Vũ Thị Nhuần ở xã Ngọc Tảo thấy cuộc sống của các mẹ mỗi người một cảnh, nhìn chung đều là khó khăn, kham khổ. Khi các mẹ được biết trong lúc tuổi già của mình có Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 nhận phụng dưỡng với mức trợ cấp mỗi tháng 200 nghìn đồng, có mẹ đã khóc. Nhìn những giọt nước mắt lăn trên những gò má già nua của những cuộc đời vất vả, kiên nhẫn như các mẹ, ai cũng xúc động nghẹn ngào.
Ngô Văn Phước- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 29+30 (70+71)1999.

Chào mừng 70 năm công đoàn việt nam

Một bề dày lịch sử ra đời, hoạt động và phát triển 70 năm Công đoàn Việt Nam vinh quang ngày 28 tháng 7 năm 1929 đến ngày 28 tháng 7 năm 1999. Trong suốt quá trình oanh liệt ấy, chặng đường đã đi luôn luôn gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, đấu tranh kiên cường để giành độc lập tự do, đưa cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Trong công cuộc đổi mới đất nước theo cương lĩnh, đường lối của Đảng, vai trò của công đoàn có vị trí và ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Công nhân lao động được phát huy sức sáng tạo và cống hiến, được chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình nhờ một tổ chức chính trị mang tính cách mạng triệt để đó là Công đoàn Việt Nam. Một bộ phận to lớn, hùng hậu của tổ chức ấy là Công đoàn Xây dựng Việt Nam. Với hàng triệu người là công chức, lao động thuộc các thành phần kinh tế được bình đẳng về chính trị và cạnh tranh trong cơ chế thị trường đã tạo dựng nên biết bao công trình công nghiệp, dân dụng, quốc phòng an ninh và hạ tầng kỹ thuật cơ sở cho đất nước. Mục tiêu của công đoàn xây dựng Việt Nam là tổ chức phong trào hành động cách mạng đẩy mạnh thi đua yêu nước, tạo ra những chuyển biến mới trong các lĩnh vực chuyên ngành, tham gia xây dựng cơ chế, chính sách gắn với quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, thực hiện tốt 3 cuộc vận động: “Bảo đảm và nâng cao chất lượng công trình, sản phẩm ngành xây dựng”, tổ chức tốt điều kiện sống và làm việc của công nhân viên chức và xây dựng đội ngũ công nhân viên chức ngành Xây dựng đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 70 năm thật vẻ vang và vĩ đại. Thế kỷ 21 đang ở phía trước, giai cấp công nhân và lao động sẽ viết tiếp những trang sử tuyệt vời hơn.
Văn bản mới của Chính phủ
Phê duyệt kết quả chọn tư vấn cho dự án đô thị Bắc Thăng Long – Vân Trì, Hà Nội: Công ty tư vấn Nippon Koei của Nhật Bản thực hiện theo phương thức hợp đồng trọn gói, giao Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo chủ đầu tư đàm phán và ký kết hợp đồng theo quy định, đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về kỹ thuật, tài chính, tiến độ thực hiện dự án, bảo đảm các công ty tư vấn Việt Nam. Cho phép Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng thực hiện việc miễn thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất xây dựng nhà chung cư cao tầng có căn hộ khép kín để bán cho người có thu nhập thấp tại dự án Xây dựng nhà ở thí điểm khu E, Cát Bi, Hải Phòng. Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 “Về việc ban hành cơ chế quản lý chất thải nguy hại”, quy định rõ trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân có các hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam liên quan tới việc phát sinh, thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại. Giao Ngân hàng phục vụ người nghèo khoanh nợ gốc và không tính lãi các khoản cho vay bị thiệt hại do thiên tai năm 1998 từ 80% trở lên, giãn nợ các khoản cho vay bị thiệt hại từ 40% đến dưới 80% cho các đối tượng thuộc diện chỉ đạo tại quyết định số 90/1998 của Thủ tướng Chính phủ, khoanh nợ gốc và không tính lãi các khoản cho vay bị thiệt hại là 1005 giãn nợ các khoản cho vay bị thiệt hại từ 40% đến dưới 100% cho đối tượng chưa thuộc diện chỉ đạo tại quyết định trên.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa kết luận giữ nguyên quyết định 2047
Báo Xây dựng số 24 phát hành từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 6 năm 1999 đăng bài: Một lô đất 3 quyết định xử lý của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa vẫn bị vô hiệu, ngày 2 tháng 7 năm 1999, tại Thông báo 218/UB của Ủy ban nhân dân tỉnh chúng tôi được biết ngay sau khi báo đăng ngày 24 tháng 6 năm 1999, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Thiết Hùng đã chủ trì cuộc họp với đông đủ đại diện các ngành hữu quan của tình để duyệt xét lại quá trình giải quyết vụ tranh chấp đất đai của 2 ông Nguyễn Xuân Trung và Trần Ngọc Hắt. Tại cuộc họp, chủ tịch Nguyễn Thiết Hùng kết luận giữ nguyên quyết địh số 2047/QĐ-UB ngày 24 tháng 7 năm 1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh, giao cho Sở địa chính chủ trì và phối hợp với Thanh tra tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện Cam Ranh tổ chức triển khai thực hiện quyết định nói trên của Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 15 tháng 7 năm 1999, riêng ông Trần Ngọc Hắt và mẹ ông được sử dụng 302 mét vuông đất tại khóm 9, thị trấn Ba Ngòi nhưng phải nộp tiền sử dụng đất. Trừ 200 mét vuông đầu được nộp 20% giá trị đất, phần 102 mét vuông còn lại, ông Hắt phải nộp là 100% giá trị đất theo quy định tại quyết định số 5064/QSS-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Trao tặng lãnh đạo Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam huy chương vì sự nghiệp xây dựng
Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Công đoàn Việt Nam, ngày 15 tháng 7 năm 1999, tại trụ sở Tổng Liên đoàn, đại diện Bộ Xây dựng, Thứ trưởng Nguyễn Văn Liên đã trao tặng Huy chương vì sự nghiệp xây dựng cho các đồng chí Đỗ Đức Ngọ, Nguyễn Đình Thắng, Đặng Ngọc Chiến phó chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp Xây dưng Việt Nam. Cũng nhân dịp này, Bộ xây dựng đã trao tặng Huy chương “Vì sự nghiệp xây dựng” cho đồng chí Dương Xuân An, nguyên phó Chủ tịch Công đoàn Xây dựng Việt Nam.
Xây dựng-xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 29+30 (70+71)1999.

Nhà máy đầu tiên ở đồng bằng sông cửu long sử dụng than đá nung gạch

Nhà máy sản xuất gạch tuynel Vĩnh Long thuộc Công ty sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng tỉnh Vĩnh Long, nằm trên địa bàn xã Thạnh Đức, huyện Long Hồ được xây dựng với tổng vốn đầu tư 16 tỷ đồng, công suất 20 triệu viên gạch trên một năm, đi vào hoạt động từ cuối năm 1996. Theo thiết kế ban đầu, nhà máy sử dụng dầu FO để nung gạch. Lượng dầu cần cho lò nung 24 giờ lên đến 2 nghìn lít. Mỗi tháng nhà máy sản xuất trên 2 triệu viên gạch, sử dụng khối lượng lớn dầu đốt, giá dầu có khuynh hướng tăng dần, nên giá thành sản phẩm có lúc lên đến 600 đồng một viên, gây khó khăn cho nhà máy trong cạnh tranh tiêu thụ gạch ở thị trường miền Tây Nam Bộ. Sau nhiều lần thử nghiệm thành công từ đầu năm 1999, nhà máy đã đưa than đá vào làm nguồn nhiên liệu đốt lò cùng với dầu FO. Lượng dầu FO giảm xuống còn 1 nghìn lít trong 24 giờ. Công suất gạch ra lò tăng lên là 2 triệu viên trong 1 tháng, lượng than đá sử dụng là 200 tấn mỗi tháng. Đưa than đá vào làm nguồn chất đốt, nhà máy sản xuất gạch tuynel Vĩnh Long đã hạ giá bán 1 viên gạch từ 600 đồng một viên xuống còn 352 đồng một viên ở thị trường Vĩnh Long, sản phẩm bảo đảm chất lượng, được khách hàng chấp nhận, giá gạch cùng cỡ, cùng loại của các nhà máy khác giá ở ở mức 410 đồng một viên đến 450 đồng một viên. Trong 6 tháng đầu năm 1999, nhà máy đã sản xuất 11 triệu viên gạch tuynel chất lượng cao. Ở địa bàn tỉnh Vĩnh Long hiện nay có trên 2 nghìn lò gạch, tổng công suất là 400 triệu viên trong một năm. Phần lớn các lò gạch đều ở dạng lò tròn, đốt bằng củi và trấu. Trong số đó có gần 500 lò ủ, lò bắc, sản xuất theo kiểu thủ công. Sản xuất gạch từ lò ủ, lò bắc gây tác hại môi trường rất lớn. Thành công của nhà máy gạch tuynel Vĩnh Long trong việc dùng than đá đốt lò đang là một tác nhân tích cực không riêng trên địa bàn tỉnh mà lan rộng đến các tỉnh lân cận, hướng các cơ sở sản xuất gạch chuyển từ đốt lò bằng củi trấu sang đốt bằng than đá, hạn chế nạn phá rừng, tăng cường tiêu thụ than đá giúp Tổng công ty Than Việt Nam vượt qua khó khăn hiện nay. Tuy nhiên, nhiều chủ cơ sở sản xuất gạch, và đơn vị cung ứng than đá, đều đề nghị nhà nước có chế độ miễn giảm thuế thích hợp, nhằm giúp họ có điều kiện chuyển từ lò đốt củi, trấu sang than đá. Tốc độ xây dựng trong quá trình đô thị hóa ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang tăng nhanh. Chính phủ đang có chương trình giúp nông dân thay nhà tạm bơ tre lá sang dạng nhà ở kiên cố. Khối lượng gạch cung ứng cho nhu cầu xây dựng rất lớn. Việc hạ giá thành gạch góp phần đưa chương trình này được thực hiện nhanh hơn.
Trần Quang Tuấn- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 32 (73)1999.

Doanh nghiệp thiếu vốn, ngân hàng thiếu cơ chế

(Lỗ hổng trong chương trình phát triển ở đồng bằng sông cửu long)
Chương trình phát triển ở Đồng Bằng Sông Cửu Long là một dự án kinh tế mang tính xã hội sâu sắc. Để đến năm 2010 có trên 90% hộ dân đồng bằng Nam Bộ được sống trong những căn nhà kiên cố và bán kiên cố thì số nhà tạm bợ cần phải thay thế lên tới 2,45 triệu căn nhà. Bình quân mỗi năm vùng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long phải có 190 nghìn căn nhà được xây dựng mới. Bộ Xây dựng giao cho Công ty phát triển và kinh doanh nhà Cửu Long thực hiện chương trình nhà ở to lớn này. Mặc dù nỗ lực của Công ty phát triển và kinh doanh nhà Cửu Long đã đạt được những kết quả đáng khích lệ ban đầu, tạo đà cho phong trào phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nhưng năm 1998 số lượng nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long do công ty này thực hiện cũng mới chỉ đạt con số là khiêm tốn khoảng 3.500 căn nhà, dự kiến năm 1999 chỉ đạt được 5 nghìn căn nhà, nguyên nhân chủ yếu vì thiếu vốn đầu tư. Để đẩy mạnh chương trình phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Chính phủ khuyến khích nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia. Tháng 9 năm 1997, Chính phủ dã quyết định thành lập ngân hàng phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nhằm huy động vốn, cho vay hỗ trợ nhân dân xây dựng và phát triển nhà ở. Các khoản tín dụng cho vay ngắn hạn và trung hạn chủ yếu vào mục đích phát triển nhà ở. Ngân hàng này cũng sẽ thực hiện chính sách tín dụng nhà ở của thuộc diện chính sách ưu đãi của nhà nước đối với vùng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Được biết sau khi hoạt động tháng 4 năm 1998 Ngân hàng phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và Công ty phát triển và kinh doanh nhà Cửu Long đã ký văn bản thỏa thuận với nhiều hứa hẹn về việc đầu tư cho vay phát triển nhà ở. Theo đó, thông qua đơn vị sản xuất nhà là Công ty phát triển và kinh doanh nhà Cửu Long, Ngân hàng phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ cho dân vay để xây dựng nhà ở. Bộ xây dựng cũng đã có văn bản đề nghị Ngân hàng phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long thực hiện hỗ trợ tín dụng về nhà ở theo như quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ. Thế nhưng, sau hơn một năm từ khi Ngân hàng phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long hoạt động, các khoản tín dụng cho người nghèo thông qua Công ty phát triển và kinh doanh nhà Cửu Long hầu như vẫn nằm lại ở con số trừ vốn vay lưu động theo lãi suất thông thường. Với một thực trạng như hiện nay, nếu Nhà nước không có những giải pháp kịp thời, hơn 2 triệu căn nhà tạm bợ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ khó có cách gì giải quyết! Mang theo những bức xúc, chúng tôi tìm gặp lãnh đạo các đơn vị kinh tế được Chính phủ giao trọng trách trong việc phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Ông Trần Đình Long, giám đốc Công ty phát triển và kinh doanh nhà Cửu Long không đáp ứng được vì thiếu vốn.
Khoảng 2 năm trở lại đây, sau khi Công ty phát triển và kinh doanh nhà Cửu Long bắt đầu thực hiện, chương trình nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, có rất nhiều đơn vị tham gia làm cho mẫu mã nhà ở nông thôn cũng ngày càng phong phú đa dạng. Tuy nhiên, thực sự hiện nay cũng chỉ mới có sản phẩm của công ty phát triển và kinh doanh nhà Cửu Long đi vào cuộc sống, được người dân chấp nhận bước đầu đã khơi dậy được phong trào tiết kiệm xây dựng nhà ở tại vùng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Vấn đề đặt ra là nguồn tài chỉnh ở đâu để hỗ trợ cho người có thu nhập thấp có điều kiện mua nhà? Ngân hàng sẽ trực tiếp cho dân vay vốn hay cho vay thông qua doanh nghiệp? Nếu ngân hàng cho dân vay trực tiếp thì không đủ mạng lưới cán bộ tín dụng cơ sở ở các địa phương. Trường hợp như ở Trà Vinh, sau khi cung cấp nhà cho dân, thông qua chíh quyền địa phương, công ty phát triển và kinh doanh nhà Cửu Long đã lập hồ hơ tín dụng theo mẫu của ngân hàng. Ngân hàng phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đã thẩm định lại và kết luận hồ sơ thỏa mãn các điều kiện về tín dụng, nhưng gần một năm trôi qua khoản vốn tín dụng đó vẫn không được giải ngân, với lý do mà phía ngân hàng đưa ra là chưa được Bộ Tài Chính ban hành cơ chế. Rút cuộc đến nay Ngân hàng phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long không cho doanh nghiệp chúng tôi vay, cũng không cho dân trực tiếp vay. Hiện nay nhu cầu nhà ở người dân đăng ký rất nhiều, nhưng chúng tôi không thể đáp ứng hết được vì thiếu vốn. Theo tôi Ngân hàng Phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long không thể hoạt động như các ngân hàng thương mại bình thường khác, mà mục đích chính là để hỗ trợ, thúc đẩy thực hiện chương trình phát triển nhà ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long như đã nêu trong quyết định thành lập. Nếu không thực hiện được nhiệm vụ đó thì có còn ý nghĩa ra đời của tổ chức tín dụng này nữa hay không? Để đẩy mạnh phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, hiện nay chúng tôi đang đồng thời xúc tiến triển khai các dự án thực hiện từ nay đến năm 2010. Việc phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long vượt ngoài tầm của một đơn vị, mà đó là một chương trình mang tầm quốc gia với sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành các bộ.
Ông Tô Công Hầu, chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long chậm là do vừa làm vừa chò chính sách.
Đầu tư về nhà ở là mô hình vực mới, Ngân hàng Nhà nước chưa có chính sach rõ ràng cho tín dụng nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Ngân hàng phát triển nhà ở Đồng Bằng Sông Cửu Long lúng túng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vừa chờ chính sách nên thực hiện chậm.
Chu An- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 32 (73)1999.

Các đại gia tiếp tục bị thẩm vấn

(Vụ án EPCO – Minh Phụng)
Theo kế hoạch, vụ án EPCO – Minh Phụng được đưa ra xét xử trong 45 ngày. Đến 29 tháng 6 năm 1999, ngày thứ 43 của phiên tòa vẫn tiếp tục phần thẩm vấn các bị cáo. Còn phải 3 công đoạn nữa mới hoàn tất phiên tòa tranh luận trước tòa, nghị án và tuyên án. Như vậy, phiên tòa xử vụ EPCO – Minh Phụng lại lập thêm một kỷ lục nữa phiên tòa dài ngày nhất và thời gian phát sinh so với dự kiến cũng… dài nhất .
Trả lại cuộc đấu khẩu Tăng Minh Phụng – Liên Khui Thìn
Khi tài sản của EPCO được nâng khống lên tới 15 triệu đô la Mỹ, Tăng Minh Phụng đã bỏ ra 4,2 triệu đô la Mỹ mua lại 36% cổ phần của 3 cổ đông thuộc EPCO và được giao giữ chức phó chủ tịch hội đồng quản trị và phó giám đốc. Sau này, ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng bỏ ra hơn 40 tỷ đồng cũng bỏ ra hơn 40 tỷ đồng mua 25% cổ phần của EPCO và ông Bùi Thế Uông, Phó tổng giám đốc Ngân hàng ngoại thương Trung ương cũng được giữ phó chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm phó giám đốc Công ty. EPCO phụ trách đối ngoại và hỗ trợ tài chính. Tăng Minh Phụng khai năm đó EPCO chia lãi hơn 10 tỷ đồng, Ngân hàng ngoại thương Trung ương được chia hơn 3 tỷ đồng, Tăng Minh Phụng được chia hơn 3 tỷ, Tăng Minh Phụng được chia 3,2 tỷ, nhưng không nhận. Cũng vẫn theo Tăng Minh Phụng mặc dù ngôi thứ được chia như vậy nhưng Liên Khui Thìn làm hết, không nhận. Cũng vẫn theo Tăng Minh Phụng, mặc dù ngôi thứ được như vậy nhưng Liên Khui Thìn làm hết, không để cho ai quyết gì cả, thậm chí nhiều khi Tăng Minh Phụng đã làm kế hoạch mặt bằng xong nhưng khi có tiền Liên Khui Thìn lại đem làm việc khác. Nói mãi không được, Tăng Minh Phụng chỉ tham gia họ hội đồng quản trị có 4 lần và không điều hành cũng như không hưởng lợi gì từ EPCO. Việc tham gia mua cổ phần của EPCO chẳng qua là Tăng Minh Phụng muốn cứu EPCO vào thông qua giới thiệu của Liên Khui Thìn để được Ngân hàng Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh và Ngân hàng công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho vay và bảo lãnh là đủ. Liên Khun Thì xác nhận EPCO không phải là doanh nghiệp nhà nước, rằng việc Tăng Minh Phụng tìm đến EPCO mua cổ phần, có nộp 4,5 triệu đô la Mỹ không phải là Tăng Minh Phụng bị mồi chài, trái lại, Tăng Minh Phụng biết rất rõ thực trạng của EPCO và có mưu đồ muốn thôn tính EPCO. Liên Khui Thìn cho rằng Tăng Minh Phụng mua vốn EPCO đã đưa ra đề nghị là EPCO nên bán bớt tài sản để trả nợ và nếu bán Tăng Minh Phụng sẽ đứng ra mua lại. Liên Khui Thìn khai, EPCO có nhiều đất, thế chấp ngân hàng nào cũng được nhưng Tăng Minh Phụng đòi mua hết và còn muốn mua hết các công ty con của EPCO nữa như vậy là muốn thôn tính EPCO chứ không phải muốn giúp đỡ EPCO như Tăng Minh Phụng vẫn rêu rao. Cuộc đấu khẩu gây cấn hơn khi Tòa đề cập đến việc Tăng Minh Phụng mua bán với EPCO. Tăng Minh Phụng khai nhận khẳng định rằng việc mua bán này là có thật 100% cụ thể là doanh số mua bán giữa 2 đơn vị vào năm 1992 đến năm 1995 trên 400 tỷ đồng, từ tháng 11 năm 1995 đến tháng 3 năm 1997 ngày khởi tố vụ án doanh số là 672 tỷ đồng, trong đó EPCO giao hàng trị giá là 336 tỷ đồng nữa. Liên Khui Thìn thì chỉ xác nhận việc mua bán giữa EPCO và Tăng Minh Phụng là 50% là có thật, còn 50% còn lại là mua bán khống vì EPCO làm hợp đồng xuất hóa đơn là hỗ trợ, giúp công ty Minh Phụng tạo lập hồ sơ để vay vốn ngân hàng. Trở lại lời khai của Tăng Minh Phụng xung quanh việc xác định Liên Khui Thìn có mở tài khoản ở nước ngoài không, ngày 28 tháng 6 ông Hoàng Minh Khôi đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố tại phiên tòa đã thẩm vấn Liên Khui Thìn. Thìn khai “cạc xanh” cạc vàng mà Tăng Minh Phụng khai đã nhận thấy khi Liên Khui Thìn sử dụng ở nước ngoài là cạc đi mượn chỉ có trị giá là 20 nghìn đô la Mỹ và 50 nghìn đô la Mỹ. Tăng Minh Phụng khi bị viện kiểm sát thẩm vấn một lần nữa khẳng định 2 cạc này có giá trị là 300 nghìn đô la Mỹ và 1 cạc có giá trị là 600 nghìn đô la Mỹ. Ông Khôi hỏi: “Nếu có bằng chứng cho thấy bị cáo có tài khoản ở nước ngoài thì bị cáo nghĩ sao?”. Liên Khui Thiinf khẳng định: “Bị cáo sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nếu bị cáo có tài khoản ở nước ngoài thì đã nhờ Hội đồng xét xử thu tiền về cho bị cáo rồi. Sự lựa chọn thiết bị sản xuất của Doanh nghiệp phải do chính doanh nghiệp quyết định, tuy nhiên xin được nhắc lại điều đã nói trong bài viết này người dùng gạch chọn chất lượng viên gạch để mua chứ không vì máy làm gạch của nội hay của ngoại. Nhưng có một điều đã được kiểm nghiệm qua thực tế sản xuất gạch ngói nung những năm qua, dùng lò tuynen chế trong nước sẽ cạnh tranh khỏe hơn dùng thiết bị lò tuynen nhập ngoại.
Kim Tiến- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 26 (67)1999.