Lưu trữ hàng tháng: Tháng Chín 2016

Bốn nguyên nhân dẫn đến cổ phần hóa chậm

(Bộ xây dựng đã hoàn thành cổ phần hóa 12 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp)
Chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần hóa nhằm mục tiêu huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, đồng thời tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những người đã góp vốn được làm chủ thực sự thay đổi phương thức quản lý tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước. Thi hành chủ trương sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước của Đảng và nhà nước Bộ Xây dựng đã chỉ đạo các Tổng công ty và công ty nhà nước thuộc Bộ quản lý lập phương án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp nhà nước từ năm 1998 đến năm 2000. Trên cơ sở phương án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp nhà nước của từng Tổng công ty và từng doanh nghiệp độc lập, Bộ Xây dựng đã xây dựng phương án tổng thể sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ quản lý từ năm 1998 đến năm 2000 và Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp nhà nước của Bộ Xây dựng. Việc chỉ đạo thực hiện cổ phần hóa trong các Tổng công ty thiếu tập trung và không liên tục, thậm chí có những nơi thiếu kiên quyết, dẫn đến tiến độ kéo dài trong việc xử lý những tồn đọng về tài sản, công nợ, đất đai, lao động và công việc kiểm kê, xác định giá trị thực tế doanh nghiệp cổ phần hóa. Căn cứ phương án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ xây dựng và theo đền nghị của các Tổng công ty, Công ty độc lập từ đầu năm 1998, đến nay Bộ xây dựng đã lựa chọn một số doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp nhà nước đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định tiến hành cổ phần hóa năm 1998 là 11 đơn vị, năm 1999 là 21 đơn vị kể cả Công ty lắp máy và xây dựng 69-3 đang tiến hành dở dang năm 1998 chuyển sang. Tính đến cuối tháng 9 năm 1999, Bộ Xây dựng đã hoàn thành cổ phần hóa 5 doanh nghiệp và 7 bộ phận doanh nghiệp với tổng giá trị cổ phần phát hành lần đầu là 45,222 tỷ đồng. Như vậy còn lại 4 doanh nghiệp và 14 bộ phận doanh nghiệp đang tiến hành kiểm kê tài sản, xác định giá trị thực tế tài sản doanh nghiệp bán cổ phần và sẽ phấn đấu hoàn thành trong quý IV năm 1999 và đầu năm 2000. Nói chung các doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tăng trưởng đáng kể về vốn sản xuất kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận, công việc làm và thu nhập bình quân của người lao động, cổ tức chia các cổ đông mua cổ phần đều cao hơn lãi suất gửi tiền tiết kiệm, nhất là tinh thần trách nhiệm, thái độ lao động của cán bộ, viên chức và người lao động trong các công ty cổ phần được nâng cao rõ rệt. Tuy công tác cổ phần hóa của Bộ Xây dựng được chính phủ đánh giá là Bộ triển khai khẩn trương, tích cực nhưng nhìn chung các Tổng công ty và công ty tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp còn chậm trễ. Tình hình này là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây: Lãnh đạo một số ít Tổng công ty, Công ty chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Các công ty này còn do dự trong việc cổ phần hóa một số doanh nghiệp thành viên, nhất là tâm lý sợ cổ phần hóa doanh nghiệp thành viên sẽ tách ra khỏi Tổng công ty, dẫn đến giảm doanh thu, vốn và tài sản, lợi nhuận, năng lực sản xuất kinh doanh và quy mô hạng, loại Tổng công ty nhà nước. Các doanh nghiệp xây lắp phần lớn chưa có sức hấp dẫn các pháp nhân và các nhân mua cổ phần, bởi mặt hàng không ổn định, máy móc thiết bị thường lạc hậu kỹ thuật, lại không đồng bộ và sử dụng không hết công suất, tài sản tồn đọng nhiều, công nợ dây dưa khó đòi chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn lưu động hiện có của doanh nghiệp, mặt khác, lao động thủ công nhiều và dôi dư tương đối lớn, dẫn đến không ít doanh nghiệp xây lắp tỷ suất lợi nhuận trên một đồng vốn kinh doanh và trên một đồng doanh thu mỗi năm một giảm. Một số chính sách, chế độ đối với các doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa chưa được giải quyết hợp lý, như khống chế mức mua ưu đãi của cán bộ quản lý điều hành doanh nghiệp, giá trị tăng thêm do kiểm kê, đánh giá lại tài sản doanh nghiệp chưa được xử lý thỏa đáng theo nguồn vốn hình thành, tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước chưa được quy định cụ thể cách thức và thủ tục dùng số tiền này để: đào tạo, đào tạo lại, để giải quyết việc làm mới cho người lao động, trợ cấp cho người lao động dôi dư, bổ úng vốn cho các doanh nghiệp nhà nước cần ưu tiên củng cố, đầu tư thêm cổ phần tại công ty cổ phần kinh doanh có hiệu quả. Việc chỉ đạo thực hiện cổ phần hóa trong các Tổng công ty thiếu tập trung và không liên tục, thậm chí có những nơi thiếu kiên quyết, dẫn đến tiến độ kéo dài trong việc xử lý những tồn đọng về tài sản, công nợ, đất đai, lao động và công việc kiểm kê, xác định giá trị thực tế doanh nghiệp cổ phần hóa. Những tồn tại trên đây cần được các tổng công ty, Công ty rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục, có kế hoạch và chương trình cụ thể để chỉ đạo tập trung, dứt điểm tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, trước mắt phấn đấu hoàn thành các doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định cổ phần hóa trong năm 1999. Báo Xây dựng số 38 có đăng bài “Tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước rất chậm” do sơ suất kỹ thuật có nếu Bộ Xây dựng đã cổ phần hóa 40 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp là không chính xác, thành thật xin lỗi bạn đọc.
PTS. Vũ Lục-xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 39 (80)1999.

Giải quyết như thế là đúng với ndd48/cp

Ngày 13 tháng 9 năm 1999, báo xây dựng nhận được đơn của ông Lại Hồng Sĩ, ở 26A Trần Hưng Đạo, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội khiếu nại gia đình ông có căn hộ 10 mét vuông khá chật đã được cơ quan quản lý nhà quận Hoàn Kiếm cấp giấy phép sửa chữa, nâng thành hai tầng, mái từ năm 1986. Sau đó ông Sĩ làm thêm một lán chống nóng trên nóc tầng hai bằng khung gỗ, mái tôn nhựa. Đến nay lán đã xuống cấp, dột nát nhiều nên vừa qua ông đã thay thế bằng khung sắt, mái tôn kẽm, nhưng chính quyền phường ra quyết định buộc ông phải tháo dỡ. Phóng viên báo xây dựng đã tìm hiểu và được ông Nguyễn Tân Chương, chủ tịch ủy ban nhân dân phường Phan Chu Trinh cho biết: ngay từ khi ông Sĩ sửa chữa, xây lại thành hai tầng và làm thêm lán chóng nóng đã gây ra nhiều khiếu kiện đối với các hộ liền kề, ủy ban nhân dân phường phải hai lần can thiệp giải quyết bằng cách hòa giải. Đầu tháng 9 năm 1999, ông Sĩ không xin phép chính quyền phường và cơ quan chức năng, tự ý bỏ khung gỗ và mái nhựa lán chống nóng thay bằng khung sắt và mái tôn kẽm, thành một diện tích bán kiên cố, gây khiếu kiện căng thẳng. Ngày 7 tháng 9 năm 1999, ủy ban nhân dân phường Phan Chu Trinh đã có quyết định số 254/QĐ – UB xử phạt hành chính đối với việc sửa chữa, xây dựng không phép của gia đình ông Sĩ và buộc ông phải dỡ bỏ toàn bộ phần cột, khung sắt, chứ không phải dỡ bỏ toàn bộ lán chống nóng như đơn của ông Sĩ đã đưa. Nhưng ông Sĩ không chấp hành nên ngày 15 tháng 9 năm 1999 phường Phan Chu Trinh cùng với lực lượng tuần tra xây dựng đô thị đã tổ chức cưỡng chế theo đúng NĐ 48 CP của chính phủ ban hành ngày 5 tháng 5 năm 1997 về xử phạt hành chính trong quản lý xây dựng.
Khắc phục sự cố năm 2000 cho xi măng lò đứng
Theo số liệu thống kê, phần lớn các thiết bị, máy móc sản xuất có sử dụng hệ thống điều khiển tự động bằng máy tính trong các nhà máy xi măng lò đứng đều bị ảnh hưởng của sự cố máy tính năm 2000 nên việc khắc phục đang là vấn đề cần được nhanh chóng giải quyết. Đó cũng chính là nội dung của cuộc hội thảo Tư vấn kỹ thuật khắc phục sự cố năm 2000 cho các nhà máy xi măng lò đứng do bộ xây dựng tổ chức ngày 27 tháng 9 năm 1999 tại Hà Nội với sự tham gia của các cơ quan quản lý nghiên cứu khoa học và các nhà sản xuất xi măng lò đứng.
Mạng điện thoại di động Vinaphone không bị ảnh hưởng bởi sự cố Y2K
Tin từ Công ty dịch vụ viễn thông – Tổng công ty BCVTVN cho hay: mạng điện thoại di động toàn quốc Vinaphone và các thiết bị của hệ thống gồm các trạm thu phát, tổng đài, trung tâm điều hành, trung tâm tính cước và các thiết bị phụ khác không bị ảnh hưởng bởi sự cố Y2K. Lý do là trong quá trình đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống, sự cố Y2K đã được giải quyết trọn vẹn.
Nhà máy gạch Phúc Thịnh
Đưa dây chuyền máy sản xuất gạch tuynel 10 triệu viên trên một năm vào hoạt động. Nhân kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng thủ đô Hà Nội và thành lập ngành xây dựng Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 1999 nhà máy gạch Phúc Thịnh thuộc sở xây dựng Hà Nội đã cắt băng khánh thành, đưa dây chuyền máy sản xuất gạch tuynel 10 triệu viên trên một năm cho công ty 4, sở xây dựng Hà Nội chế tạo vào hoạt động. Đây là dây chuyền máy thứ hai sau dây chuyền của Bungari được lắp đặt từ năm 1970. Trong nhiều năm qua, nhà máy được đánh giá là đơn vị đầu tư đạt hiệu quả cao của ngành xây dựng Hà Nội luôn đi đầu trong các phong trào thi đua lao động sản xuất, cải tiến kỹ thuật, công nghệ, máy móc. Cùng với dây chuyền máy móc này, nhà máy cũng đã nâng công suất từ 30 nghìn viên trên một ca lên 45 đến 50 nghìn viên trên một ca để năm 1999 đạt 18 triệu viên gạch tuynel.
Đại hội cổ đông công ty cổ phần xi măng Ngũ Hành Sơn
Nhà máy xi măng Ngũ Hành Sơn trước đây trực thuộc công ty xi măng Đà Nẵng, sau khi công ty xi măng Đà Nẵng chính thức giải thể từ ngày 25 tháng 8 năm 1999 doanh nghiệp này được thành lập lại dưới hình thức công ty cổ phần. Ngày 20 tháng 9, công ty tổ chức đại hội với 114 cổ đông tham dự. Được biết, vốn điều lệ của công ty cổ phần là 525 triệu đồng. Chức năng hoạt động là sản xuất kinh doanh xi măng, đá xây dựng, gạch không nung block, bột đá và xuất nhập khẩu clinker…
Hải Phòng khởi công xây dựng 180 căn hộ cho các đối tượng có thu nhập thấp. Ngày 25 tháng 9 năm 1999 Công ty xây dựng và phát triển đầu tư của sở xây dựng Hải Phòng đã khởi công xây dựng khu nhà ở tập thể cho các đối tượng có thu nhập thấp đầu tiên gồm 9 lô, 3 tầng, tổng số 180 căn hộ độc lập, khép kín, diện tích một căn hộ từ 37 đến 53 mét vuông. Thành phố hỗ trợ 100% tiền sử dụng đất, tiền giải phóng mặt bằng và tiền xây dựng cơ sở hạ tầng, người được mua nhà trả dần tiền trong 2 năm không tính lãi. Công ty xây dựng và phát triển đầu tư lô nhà đầu tiên hoàn thành vào ngày 1 tháng 5 năm 2000, sẽ bán cho đối tượng sử dụng đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng Hải Phòng (13 tháng 5 năm 2000).
Văn phúc- xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 39(80)1999

Nền nhà

Là nền nhà, cần thể hiện vững chãi, nhất là nền tầng 1. Không nên dùng các loại gạch lát nền màu quá sáng, hoặc họa tiết trang trí quá nhiều đường nét, quá nổi bật, sẽ làm rối mắt. Có thể dùng các loại gạch lát nền kích thước là 30 x 30 x 5 mm hiện nay đang rất phổ biến, không nhất thiết phải hàng ngoại, hàng Việt Nam rất đẹp và bền. Màu nền không sáng lắm, có thể hơi sẫm một chút. Nên nhớ là nền nhà trên đó còn có nhiều đồ đạc. Nền nhà quá nổi bật, sặc sỡ sẽ tranh chấp với các hình dáng khác nhau của đồ đạc. Có thể dùng màu ghi, nâu sáng, vàng đất… nền nhà lát đá trắng, tạo cảm giác lành lạnh. Và ngược lại có nền nhà lát đá đen có vân đá, trông rất sang. Có thảm trải sàn là điều tốt, trước hết là phòng khách. Tuy nhiên phải nhớ điều kiện vệ sinh đừng để trở thành túi bụi.
Tường nhà: Nguyên tắc là màu sáng ấm cúng, không rực rỡ cho phòng khách, phòng ăn. Xanh lá cây cho phòng ngủ tạo cảm giác tĩnh lặng. Tuy nhiên với người kỹ tính thì màu hồng nhạt, mơ chín lại với phòng ngủ. Không nên dùng tím nhạt, vàng chanh… không phù hợp với phòng khách nơi cần tươi vui, sinh động, nhưng lại đứng đắn, phần nào trang nghiêm. Dùng màu nâu nhạt sáng, màu kem sữa, màu ghi nhạt làm khéo cũng rất có giá. Bốn tường phòng không nhất thiết phải cùng màu có thể từng cặp đối diện một màu miễn sao hòa hợp nhau. Phòng hẹp màu sáng nhạt tạo cảm giác rộng. Ngược lại, phòng rộng màu đậm hơn. Bây giờ, nhiều loại sơn, vôi pha sẵn đủ các loại màu sắc khác nhau. Nên quét thử lên tường rồi mới quyết định. Vì giữa mẫu giới thiệu và thực tế sơn lên tường còn có một khoảng cách. Phòng khách hẹp có thể tạo cảm giác rộng bằng tấm gương lớn, bằng cách dán lên một mảng tường thích hợp một bức tranh tường. Nếu tranh có độ lớn, khi dán cắt bớt những phần thừa để bức tranh phủ kín hết phần tường gây cảm giác một bối cảnh nhìn qua khung cửa sổ. Tranh ảnh trên tường không nên treo quá nhiều. Ảnh bố mẹ ngày cưới ảnh cả gia đình, ảnh các con qua từng thời kỳ lớn, không thích hợp ở phòng khách.. chỉ nên một vài tranh ảnh đẹp như thế vật điểm xuyết trên cả mảng tường màu đẹp chứng tỏ thẩm mỹ của chủ nhân. Tiêu chuẩn cao nhất của tranh ảnh đẹp ở đây là giá trị nghệ thuật, chứ không phải trình bày toàn cảnh gia tộc. Phòng ngủ có thể dùng màu xanh lá cây nhạt tạo cảm giác tĩnh lặng.
Trần nhà nếu trần phẳng có thể dùng các đường diềm thường gọi là phào trang trí bằng thạch cao. Không nhất thiết trần cứ phải màu trắng, có thể cùng màu với tường nhưng nhạt hơn. Nguyên tắc là màu trần phải sáng nhất trong phòng. Để đèn trần, quạt trần có thể dùng những hoa văn thạch cao đã làm sẵn, hoa văn trong nhà, đừng rắc rối sẽ gây cảm giác nặng nè, chật chội, trần nhà như sụp xuống đầu. Có thói quen làm trần nhà bằng chất dẻo để che các bộ phận kết cấu, không phải lúc nào cũng đúng. Phô ra hệ dầm cột là tiếng nói mạnh mẽ được nhiều tác giả ưa chuộng.
Ngô Huy Giao-xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 27(68)1999.

Cần một cơ chế quản lý hợp lý

(về chống thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản)
Xây dựng cơ bản là một lĩnh vực đa dạng, phong phú, phức tạp. Hàng năm đầu tư cho lĩnh vực này hàng nghìn tỷ đồng, chỉ cần một lơi lỏng nhỏ, thiếu trách nhiệm sẽ dẫn đến thất thoát, gây lãng phí tiền bạc của Nhà nước và nhân dân. Trong bài viết này, xin đề cập tới khía cạnh: “Cơ chế quản lý”. Cơ chế quản lý hợp lý sẽ góp phần hạn chế đáng kể những thất thoát đối với lĩnh vực vốn được coi là có nhiều tiêu cực hiện nay.
Không nên tồn tại cơ chế xin cho
Cơ chế quản lý bao cấp kéo dài đã sinh ra quan hệ theo một logic xin cho. Theo đó cấp dưới xin thì cấp trên cho dẫn đến tình trạng vị nể, vì ưu tiên này nọ… thông qua giao dịch đôi bên. Kết cục nguồn vốn đầu tư được rải theo cách chia đều cho nhiều công trình. Quy định vật liệu đưa vào xây dựng công trình phải được thí nghiệm cường độ từng lô, từng đợt, nhưng khâu này xem ra quá lỏng lẻo, thậm chí có công trình không làm bao giờ. Do công tác giám định lỏng lẻo nên nhà thầu đưa vật liệu vào thi công không đúng chủng loại. Đầu tư không tập trung, công trình thi công kéo dài, chậm đưa vào khai thác, không phát huy hiệu quả kinh tế. Nếu đầu tư dứt điểm vào một kinh tế. Nếu đầu tư dứt điểm vào một số dự án nhất định, sẽ nhanh chống đưa vào công trình vào sản xuất, góp phần đẩy nhanh nền kinh tế quôc dân, nhanh chóng thu hồi vốn, hạn chế những thất thoát vô hình. Đấy là chưa kể đến trong quá trình chạy vạy để được cho cơ sở đã phải chi phí đi lại, chi phí lập dự án sao cho phù hợp ý cấp có thẩm quyền, quà cáp… rất tốn kém mà các khoản ấy chẳng có chủ đầu tư nào bỏ tiền túi ra để chi cả. Chúng ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủa nghĩa, lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản nên kế hoạch hóa theo từng giai đoạn với các dự án khả thi mang tính hiệu quả cao, được phê duyệt và quản lý một cách chặt chẽ ở cả cấp vĩ mô, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Tư vấn xây dưng
Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo nghị định 42/CP đã xác định tư vấn xây dựng là một khâu của bước thực hiện đầu tư, một mắt xích quan trọng trong cả quá trình đầu tư xây dựng công trình. Vì vậy tư vấn xây dựng phải làm chặt chẽ, chính xác, tôn trọng tiêu chuẩn xây dựng và quy chuẩn xây dựng, sẽ góp phần làm cho công trình xây dựng được bền, đẹp, đúng với giá trị đầu tư. Ngược lại khâu tư vấn xây dựng làm thiếu chặt chẽ, thiếu các dữ liệu, không chấp hành tiêu chuẩn quy phạm, thiếu chí công vô tư sẽ là tác phẩm gây lãng phí cho quá trình tư vấn đều gây nên tác hại hoặc là gây lãng phí, hoặc là dẫn đến công trình đổ sập thiệt hại tính mạng tài sản của Nhà nước và nhân dân, hoặc là vô tình tiếp tay cho đơn vị thi công và chủ đầu tư làm thất thoát. Để góp phần làm cho bước thực hiện đầu tư đạt được hiệu quả thì việc tuyển chọn tư vấn xây dựng để khảo sát, thiết kế giám định kỹ thuật và chất lượng công trình được thực hiện theo quy chế đấu thầu của Nhà nước. Thiết kế công trình phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đã được Nhà nước ban hành bao gồm: việc sử dụng tài liệu thiết kế phải hợp pháp, trình tự thiết kế đối với từng công trình thiết kế phải hợp pháp, trình tự thiết kế đối với từng công trình thiết kế 1 bước hay 2 bước, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình phải làm nghiêm ngặt, vô tư, không đầu cơ tư tưởng trực lợi. Thực tế hiện nay ngoại trừ các công trình xây dựng đặc biệt, cấp quốc gia, còn phần lớn các công trình xây dựng ở các địa phương công tác giám định kỹ thuật và chất lượng công trình còn lơi lỏng. Cơ quan tổ chức giám định chưa hợp lý có nơi là một vài cán bộ của phòng nghiệp vụ cấp Sở được cử đi làm, có nơi là cán bộ của ban quản lý dự án, có nơi là cán bộ do chủ đầu tư cử ra. Trình độ cán bộ này hạn chế, chưa nói đến không phải là cán bộ có trình độ nghiệp vụ chuyên ngành, phương tiện kỹ thuật giám định thiếu thậm chí không có dẫn đến chất lượng công tác giám định hạn chế. Quy định vật liệu đưa vào xây dựng công trình phải được thí nghiệm cường độ từng lô, từng đợt, nhưng khâu này xem ra quá lỏng lẻo, thậm chí có công trình không làm bao giờ. Do công tác giám định lỏng lẻo nên nhà thầu đưa vật liệu vào thi công không đúng chủng loại. Ví dụ: thiết kế gạch máy họ thay gạch thủ công thép thì dùng loại có kích cỡ nhỏ hơn họ gọi là thép âm, xi măng trung ương thì thay bằng xi măng địa phương… nhưng vẫn được kết luận là làm đúng thiết kế. Những khiếm khuyết này đã tạo nên một lổ hỏng vô hình làm thất thoát vốn.
Lê Phan Nghi-xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13- Số 27(68)1999.