Phong tục trong gia đình gia tộc nhà cửa

a. Cuộc tiệc: hầu hết cuộc tiệc ăn mừng được tổ chức tại tư gia (ngoại trừ cuộc vinh quy bái tổ của các khoa bảng triều Nguyễn hoặc các chức sắc hay nhà quyền thế mượn đình hoặc công sở có chỗ rộng rãi để khoản đãi đông người). Thuở xưa ở miền quê luôn tổ chức vào 12 giờ trưa; còn ở thành thị, người ta thích mở cuộc tiệc ăn mừng khi trời đã tối hoặc có khi tổ chức ở các tửu quán cao lâu.
Tiệc mừng cũng giống như đám cưới nghĩa là phải có lời mời hoặc thiệp mời người quen biết, bà con tới chia vui (ngoại trừ trường hợp quan lớn ăn mừng thì các tay em út dù có mời hay không cũng tự động lễ mễ tham dự).
Tùy hoàn cảnh, bề thế, tùy địa phương, khách khứa thường mua hoặc làm đồ tặng vừa làm quà mừng vừa để kỷ niệm tình thân thiết đôi bên. Đồ mừng phổ thông là:
Bức đại tự bằng gỗ quý hay sơn mài.
Bức tranh sơn thủy hay son mài.
Bộ tranh tứ thời.
Cặp liễn đối.
Cặp rượu Ngũ Gia Bì, Mai Quế Lộ, Con Bìm Bịp hỊart Champagne, Whisky, Bordeaux, V.V..
Hộp bánh trà.
Những câu văn thông dụng để chúc mừng như:
Phước như Đông Hải.
Thọ tỷ Nam San.
Phú quới vinh huê.
Vạn sự như ý.
Kim ngọc mãn đường.
Bá niên hảo hợp.
Vạn thượng vân mãi.
Trung hiếu lưỡng toàn.
Trong cuộc tiệc, phái nam và phái nữ đều được tham dự; thông thường các bà, các cô ngồi riêng mâm; nhưng từ sau 1954 có chủ gia tân tiến cho các cô cậu ngồi lẫn lộn nhau cho “vui cửa vui nhà”.
Các bà, các cô ăn uống nhấm nháp, nói năng nhỏ nhẻ. Còn phía các ông, rượu vào lời ra, câu qua tiếng lại ồn ào, ăn chẳng mấy mà rượu nhấp luôn miệng nên sau tiệc mừng thường có dịp “cho chó ăn chè” hay có cảnh “quất cần câu” hoặc “nằm sớp lớp”; thỉnh thoảng gặp người có tính xấu bị rượu làm nóng nảy nên bắt đầu cuộc cãi cọ đưa đến ẩu đả nhưng thường được can ngăn.
Gặp chủ gia cỏ máu văn nghệ, thường sau cuộc tiệc còn có đàn ca hát xướng kéo dài thêm đôi ba tiếng đồng hồ.
CHỦ THÍCH
1 Hai người tự nắm một bàn tay của minh lại và cùng đọc câu: “Đánh tù tì, ra cái gì, ra cái này”. Khi đọc đến chữ “này”, mỗi người phải bung ta một dấu hiệu: cái kéo, cái bao hay cái búa. Theo luật đánh tù tì, cái kéo cắt (= thắng) cái bao, cái bao trùm (= thắng) cái búa và cái búa đập (= thắng) cái kéo.
2. Chốt còn được gọi là “tốt”, được coi là lính khinh binh trong bàn cờ.
3. Các chữ viết trên hành tỏ đều là chữ Hán, nhưng vì lý do kỹ thuật ấn loát, chúng tôi xin phép ghi bằng chữ Việt.
4. Xđt “Thú vui vườn ruộng miền Nam” của Xuân Tước trong Trông vời quê
cũ (Miền Nam), Làng Văn, Toronto, Gia Nã Đại, 1996.
5. Xđt Tân Châu của Nguyễn Văn Kiểm, sđd, tt 376-424 tập san Thời Nay
số 297 ngày 1-3-57, tt 92-98 bài Đánh chim của Xuân Tước.
6. Xđt “Miền Nam: Sinh hoạt âm nhạc truyền thống” của Nguyễn Thuyết Phong trong Tuyển tập những cây viết miền Nam, Tập II, nxb Phù Sa, 1990, tt 399-406.
7. Xđt “Thú câu cá ở miền Nam” của Toan Ánh trong Các thú tiêu khiển Việt Nam, nxb Mũi Cà Mau, 1993, tt 237-247.
8. Xđt Tán Châu của Nguyễn Văn Kiểm, sđd, tt 356-375.
9. & 10. Việt Nam phong tục của Phan Ke Bính, sđd, tr 173.
11, 12, 13, 14, 15& 16. Căn cứ vào “Giao kèo chơi hụi” (được in săn để bán).
PHẦN III  PHONG TỤC TRONG GIA ĐÌNH GIA TỘC NHÀ CỬA
Gia đình là nền tảng của xã hội, nhất là gia đình Việt Nam nói chung, miền Nam nói riêng. Khảo về phong tục miền Nam, chúng tôi bắt đầu đi vào phần gia tộc và nhà cửa là hai điểm căn bản.
L GIA TỘC
Điểm đáng lưu ý là gia tộc người miền Nam không có gia phả.
A. THÀNH PHẦN, QUYỀN HẠN, NHIỆM vụ
1. Thành phần gia tộc: miền Nam cũng như Bắc và Trung đều theo chế độ phụ hệ nên, trên nguyên tắc, bà con bên nội được coi trọng hơn bà con bên ngoại (nhưng về tình cảm thì bà con bên ngoại thường thương nhau hơn!).
a. Bên nội: gồm những người đồng huyết thống, cùng một ông tổ. Cùng mang một họ bao gồm 9 đời gọi là cửu tộc, chia ra làm 3 thế hệ: quá khứ, hiện tại, tương lai.

Theo sơ đồ trên, chúng ta thấy trực hệ gồm 9 đời bà con, bàng hệ gồm 4 đời bà con. Nhưng trên thực tế, ở miền Nam sống chung hay có nhiều giao dịch thường chỉ 4 đời (gọi là “tứ đại đồng đường”) ở trực hệ là: tổ phụ mẫu, phụ mẫu, tử, tôn.

So với Bắc và Trung, người miền Nam ít kể bà con với những người có huyết thống xa vì hai lý do chính:

Không cỏ gia phả: trước 1945 trong sổ 1.000 đình miền Nam may ra mới có một gia đình có gia phả bởi bản tính sống giản dị, không ưa ghi chép văn tự, cho nên nhiều bà con xa không thể nhở hết để giao tế và chỉ bảo cho con cháu. Còn sau 1945 đi tìm một gia phả ở miên Nam là chuyện không dễ. Vì vậy ở miền Nam dê xảy ra canh bà con gây gổ, đánh lộn, thù hằn, yêu nhau, có khi lấy nhau mãi về sau mới biết là bà con xa.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *